Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và nội soi ở bệnh nhân dị vật thực quản nhập viện điều trị tại Bệnh viện Nhi Đồng 1
The Clinical, Paraclinal, and Endoscopic Study of Pediatric Patients with Esophageal Foreign Bodies Admitted to Children’s Hospital 1: A Retrospective Review
Abstract
Đặt vấn đề: Dị vật thực quản là tình trạng thức ăn hay vật lạ mắc kẹt lại ở thực quản, được xếp vào nhóm cấp cứu Tai Mũi Họng, có thể gây biến chứng nặng nề nếu không được chẩn đoán, xử trí kịp thời, đặc biệt là ở đối tượng trẻ em - một trong những đối tượng dễ bị ảnh hưởng nhiều nhất khi mắc dị vật. Việc có thêm thông tin về dị vật thực quản ở trẻ sẽ giúp nâng cao các biện pháp phòng ngừa, chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời. Tuy nhiên, hiện nay, ở Việt Nam những nghiên cứu mô tả đặc điểm bệnh nhi mắc dị vật thực quản chưa được công bố nhiều.
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và nội soi ở bệnh nhân dị vật thực quản nhập viện điều trị tại Bệnh viện Nhi đồng 1 từ tháng 01/2022 đến tháng 12/2023.
Đối tượng, phương pháp: Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca, hồi cứu trên 50 hồ sơ bệnh án của bệnh nhân dị vật thực quản nhập viện điều trị tại Bệnh viện Nhi đồng 1 từ tháng 01/2022 đến tháng 12/2023. Số liệu được phân tích bằng thống kê mô tả.
Kết quả: Tuổi trung bình: 6,94 ± 3,7 tuổi. Tỷ lệ giới: nam (56%); nữ (44%). Có 98% bệnh nhân có tiền sử từng nuốt dị vật. Hầu hết các trường hợp không có bệnh kèm theo (92%). Có 78% trường hợp đến ngay trong ngày đầu nuốt dị vật. Triệu chứng thường gặp nhất là nuốt đau (58%), thứ nhì là nuốt vướng (38%). Thời gian từ lúc khám đến lúc nội soi sớm nhất là 2 giờ, muộn nhất là 21 giờ. Hầu hết các trường hợp vào viện đều chưa có biến chứng (98%). Có 92% bệnh nhân có thời gian điều trị nội trú là 1 ngày. Công thức bạch cầu phần lớn bình thường giai đoạn chưa biến chứng. Trên phim X-quang cổ nghiêng và/ hoặc X-quang ngực: Có 60% trường hợp thấy hình ảnh dị vật; 4% dày mô mềm trước cột sống cổ; 36% hình ảnh X-quang bình thường. Có 74% trường hợp nội soi thực quản thấy dị vật. Đa số dị vật ở 1/3 trên thực quản (94,6%). Hầu hết các trường hợp không có tổn thương thực quản (86%).
Kết luận: Dị vật thực quản ở trẻ em gặp ở mọi lứa tuổi, có những đặc điểm khác biệt so với người lớn, cả về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và nội soi. Nghiên cứu này ban đầu cung cấp thông tin cơ bản về dị vật thực quản ở trẻ em, trong đó đáng chú ý là trên X-quang cần phân biệt hình ảnh dị vật đồng xu và pin nút áo. Lưu ý đối với dị vật là pin nút áo vì có thể gây biến chứng nặng nề ảnh hưởng tới tính mạng nếu dị vật nằm quá lâu ở thực quản. Cần thực hiện nghiên cứu về dị vật thực quản trẻ em có cỡ mẫu đủ lớn, tại nhiều nơi ở Việt Nam để có các dữ liệu đầy đủ hơn.
Abstract
Background: Esophageal foreign body occurs when food or a variety of other swallowed objects become impacted in the esophagus. This is an ENT emergency which can result in serious complications if not diagnosed and managed promptly, particularly in children. There is a scarcity of published research in Vietnam detailing the characteristics of pediatric patients with esophageal foreign bodies.
Objectives: To describe the clinical, paraclinical, and endoscopic characteristics of pediatric patients with esophageal foreign bodies admitted to Children’s Hospital 1 from January 2022 to December 2023.
Methods: This was a retrospective descriptive of 50 medical records with esophageal foreign bodies admitted to Children’s Hospital 1 from January 2022 to December 2023. The data were analyzed using descriptive statistics.
Results: The mean age was 6.94 ± 3.7 years; gender: 56% males and 44% females. A history of foreign body ingestion was reported in 98% of patients. Most cases (92%) had no comorbidities; 78% of patients presented within the first day of ingestion. The most common symptoms were odynophagia (58%) followed by globus pharyngeus (38%). The time from examination to endoscopy ranged from 2 to 21 hours. The majority of patients (98%) were admitted without complications; 90% of patients had a one - day hospital stay. White blood cell counts were mostly normal in the non - complicated phase. On lateral neck X-ray and/or chest X-ray: 60% showed a foreign body image; 4% showed prevertebral soft tissue thickening; and 36% had normal X-ray findings. Esophagoscopy revealed a foreign body in 74% of cases. Most foreign bodies located in the upper third of the esophagus (94.6%). The two most common types of foreign bodies were coins (40.5%) and intact pills (18.9%). Most patients had no esophageal injury (86%).
Conclusions: Esophageal foreign bodies in children occur at all ages and exhibit unique clinical, paraclinal, and endoscopic features compared to adults. To acquire more comprehensive data, larger - scale studies on pediatric esophageal foreign bodies should be conducted at lots of regions in Vietnam.