Đánh giá mối liên quan giữa đặc điểm hình ảnh học cắt lớp vi tính với tai biến xuất huyết phổi sau thủ thuật sinh thiết u phổi xuyên thành ngực
Assessing the correlation between computed tomography images and pulmonary hemorrhage complications after percutaneous lung biopsy at Gia Dinh People’s Hospital
Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá mối liên quan giữa hình ảnh học cắt lớp vi tính với tai biến xuất huyết phổi sau thủ thuật sinh thiết u phổi xuyên thành ngực tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, thực hiện trên 331 trường hợp có tổn thương phổi nghi ngờ ung thư được sinh thiết u phổi xuyên thành ngực tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định từ 01/2022 đến 12/2023.
Kết quả: Tuổi trung bình là 62,4 ± 10,7 tuổi, tỉ lệ nam:nữ là 1,7:1. Tỉ lệ biến chứng xuất huyết phổi sau thủ thuật là 14,5%. Kích thước trung bình của u là 48,6 ± 20,4 mm, khoảng cách từ u tới màng phổi là 7,8 ± 10,4 mm. Chúng tôi xác định được một số yếu tố liên quan với tai biến xuất huyết phổi bao gồm kích thước u (p = 0,003), khoảng cách u tới màng phổi (p < 0,001), kích thước kim 16G hay 18G (p = 0,019), thời gian thực hiện thủ thuật (p = 0,026) và số lần kim bấm sinh thiết (p = 0,05). Bên cạnh đó, một số yếu tố được xác định không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm có và không có xuất huyết phổi (p > 0,05) bao gồm: vị trí phân thùy của u, u dạng đặc hay hang, đường bờ và giới hạn của u, đặc điểm giải phẫu bệnh, hiện diện của khí phế thũng, dãn phế quản, xẹp phổi xung quanh, dãn phế quản, tư thế bệnh nhân khi sinh thiết và góc kim sinh thiết. Trong 48 trường hợp có xuất huyết phổi sau khi thực hiện sinh thiết xuyên thành ngực, nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận có 8 trường hợp ho ra máu (2,4%) với 7 trường hợp điều trị nội khoa ổn định, 1 trường hợp được can
thiệp nội mạch thành công.
Kết luận: Nghiên cứu chúng tôi cho thấy sinh thiết u phổi xuyên thành ngực dưới hướng dẫn cắt lớp vi tính là phương pháp an toàn với tỉ lệ tai biến thấp, nguy cơ xuất huyết phổi có thể được dự đoán trước dựa vào một số đặc điểm hình ảnh học cắt lớp vi tính.
Abstract
Objectives: Assessing the relationship between computed tomography imaging and the incidence of pulmonary hemorrhage following transthoracic lung tumor biopsy
Methods: A cross-sectional descriptive study and case series report were conducted on 331 cases of suspected lung cancer lesions undergoing transthoracic lung tumor biopsy at Gia Dinh People’s Hospital from January 2022 to December 2023.
Results: The average age of patients was 62.4 ± 10.7 years, with a male-to-female ratio of 1.7:1. The complication rate of pulmonary hemorrhage following the procedure was 14.5%. The average tumor size was 48.6 ± 20.4 mm, and the distance from the tumor to the pleura was 7.8 ± 10.4 mm. Several factors associated with the risk of pulmonary hemorrhage were identified, including tumor size (p = 0.003), distance from the tumor to the pleura (p < 0.001), needle size (16G or 18G) (p = 0.019), procedure duration (p = 0.026) and the number of cutting specimens (p = 0.05). However, other factors such as tumor location, solid or cystic nature, margins, borders of the tumor, histopathological characteristics, presence of emphysema, bronchiectasis, surrounding atelectasis, patient postures and needle angle showed no significant statistical difference between cases with and without pulmonary hemorrhage (p > 0.05). There were 8 cases of hemoptysis (2.4%), with 7 managed with stable medical treatment and 1 successfully treated with endovascular intervention.
Conclusion: Our study demonstrates that CT-guided transthoracic lung biopsy is a safe procedure with a low complication rate. The risks of pulmonary hemorrhage and hemoptysis can be predicted based on specific computed tomography imaging characteristics.