Quy định về bài viết

1.     Bài gửi đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới phải có nội dung phù hợp với mục đích, tôn chỉ của Tạp chí, có hướng tiếp cận chuyên ngành, liên ngành và đa ngành về nghiên cứu con người, gia đình và giới.

2.     Tác giả bài viết cần đảm bảo bài báo là công trình nghiên cứu nguyên bản. Cam kết không đạo văn dưới mọi hình thức. Không gửi bài đồng thời đến nhiều tạp chí. Không công bố lại nội dung đã được xuất bản (trừ trường hợp đặc biệt). Tuân thủ các quy định về đạo đức nghiên cứu. Không vi phạm đạo văn, gian lận dữ liệu, trích dẫn sai lệch, vi phạm bản quyền, xung đột lợi ích và bản quyền xuất bản; Cần báo cáo các công cụ AI được sử dụng và nội dung trong bài có sử dụng AI. Tác giả chịu trách nhiệm hoàn toàn về tính chính xác của AI và không được liệt kê AI là đồng tác giả.

3.     Bài gửi được đánh máy vi tính trên một mặt giấy khổ A4, sử dụng phần mềm MS Word, phông chữ Times New Roman, cỡ chữ 12, căn lề trên: 2,5 cm, căn lề dưới: 2,5 cm, căn lề trái: 3 cm, căn lề phải: 2 cm.

4.     Bài nghiên cứu có độ dài từ 5.000 đến 15.000 từ (kể cả Tài liệu tham khảo). Nếu là bài dịch phải gửi kèm bản chụp tài liệu gốc tiếng nước ngoài với tên tác giả, tên bài, tên sách, tạp chí, nhà xuất bản, năm xuất bản của tài liệu đó. Nguồn dịch phải đảm bảo bản quyền tác giả.

5.     Bài viết nghiên cứu đảm bảo kết cấu cơ bản như sau được ưu tiên đăng tải:

        Tên bài (tiếng Việt và tiếng Anh): thường không quá 3 dòng.

        Tên tác giả/ nhóm tác giả, thông tin liên hệ.

        Phân ngành

        Tóm tắt (tiếng Việt và tiếng Anh): mỗi loại không quá 300 từ.

        Từ khóa (tiếng Việt và tiếng Anh): ít nhất 3 từ khóa, nhiều nhất 5 từ khóa.

        Giới thiệu: thuyết phục người đọc quan tâm đến bài viết nhờ việc làm rõ: sự cần thiết/ lý do của nghiên cứu; xác định vấn đề nghiên cứu và chỉ ra điểm mới.

        Cơ sở lý thuyết: nội dung này cần làm rõ: tổng quan nghiên cứu, nguồn gốc lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan để làm rõ cơ sở lý thuyết của nghiên cứu; chỉ ra khoảng trống nghiên cứu.

        Phương pháp nghiên cứu: làm rõ các phương pháp nghiên cứu và dữ liệu mà bài viết sử dụng, sự phù hợp với cách tiếp cận mà bài viết lựa chọn để đạt được các mục tiêu nghiên cứu, lưu ý làm rõ các bước xử lý dữ liệu nghiên cứu, phần mềm sử dụng (nếu có).

        Kết quả và thảo luận: trình bày kết quả nghiên cứu bằng cách diễn đạt ngắn gọn, rõ ràng. Nếu bài có phân tích số liệu cần ghi rõ phân tích số liệu ở bảng biểu/đồ thị/hình vẽ nào, v.v. (tránh sa đà vào mô tả lại các số liệu đã được thể hiện ở bảng biểu, đồ thị, v.v.). Các bảng biểu, đồ thị, hình vẽ, v.v. có tên (đặt bên trên, chữ đậm, căn lề giữa), có nguồn trích dẫn (đặt bên dưới, chữ nghiêng, căn lề giữa), số liệu để dấu phẩy và đảm bảo phù hợp với in màu đen/trắng, được đánh theo số thứ tự logic với bài viết. Các bài viết diễn giải rõ các đóng góp của bài viết, các nhận định của tác giả, ưu điểm, hạn chế của nghiên cứu. Chỉ ra mối liên hệ giữa các kết quả này với các kết quả nghiên cứu đã được thể hiện trong phần tổng quan/ lý thuyết nghiên cứu trước đó.

        Kết luận: tóm tắt các kết quả nghiên cứu chính và gợi mở các hướng nghiên cứu tiếp theo (nếu có). Gợi ý/ khuyến nghị các chính sách dựa trên các phát hiện của nghiên cứu.

        Phụ lục (nếu có);

        Tuyên bố về đóng góp khoa học và thông tin nguồn gốc bài viết (nếu có; liên quan tới đề tài nghiên cứu, dự án, tài liệu hội thảo, v.v.)

        Lời cảm ơn đối với cơ quan tài trợ và/ hoặc tổ chức, cá nhân liên quan (nếu có)

        Tài liệu tham khảo theo chuẩn APA (Tên riêng của người, địa phương, thuật ngữ tiếng nước ngoài để nguyên văn, không phiên âm sang tiếng Việt)

6.     Tài liệu trích dẫn trong bài viết phải trình bày như sau:

        Nếu tác giả là người Việt Nam: viết đầy đủ họ và tên, để trong dấu ngoặc đơn và viết theo thứ tự: họ tên tác giả, năm xuất bản. Ví dụ: (Nguyễn Văn A, 2016).

        Nếu tác giả là người nước ngoài: dùng họ đầy đủ của tác giả và năm xuất bản, không đưa các chữ cái viết tắt vào phần này. Ví dụ: (Toffler, 1991).

        Khi trích dẫn nguyên văn phải có dấu ngoặc kép và cần có thêm số trang. Ví dụ: (Nguyễn Văn A, 2016: 10); (Toffler, A., 1991: 50).

        Khi trích dẫn trong bài viết, các công trình để theo thứ tự ABC, phân cách bằng dấu chấm phẩy (;); số trang được trích dẫn sau dấu hai chấm (:).

7.     Bài nghiên cứu phải có mục Tài liệu tham khảo ở cuối bài đánh theo số thứ tự 1, 2, 3,… theo tên vần a, b, c,… Thứ tự trong tài liệu tham khảo như sau: Họ tên tác giả. Năm xuất bản để trong ngoặc đơn (với các tài liệu của cùng một tác giả thì tài liệu nào xuất bản/công bố trước sẽ xếp thứ tự trước). Tên tài liệu (tên sách, tên tạp chí: in nghiêng; tên bài viết trong tạp chí hoặc chương sách thì không in nghiêng). Nhà xuất bản. Địa điểm xuất bản (nếu có). Tài liệu tham khảo cùng năm thì phân biệt bằng cách thêm a, b, c liền sau năm: vd 2025a, 2025b. Nếu tên bài viết đã có sẵn dấu móc đơn, ngoặc kép thì giữ nguyên như vậy trong tài liệu tham khảo. Nếu tham khảo bài viết từ dữ liệu thư viện, bài báo được coi như là ấn bản in. Nếu bài viết không có tác giả, dùng chính tên bài viết làm tài liệu tham khảo và căn cứ vào chữ cái đầu tiên để xếp thứ tự tài liệu tham khảo.

Tham khảo các ví dụ sau:

            Với sách: Phạm Minh Hạc. (2001). Nghiên cứu Con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Nxb. Chính trị Quốc gia. Hà Nội.

  Arnott, G. D. (2017). The disability support worker (2nd ed.). Cengage Learning.

            Với tạp chí: Lê Ngọc Văn và Nguyễn Đình Tuấn. (2025). Chỉ số hạnh phúc của người Lạng Sơn năm 2025. Tạp chí Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới, số 6(123).

   Ruxton, C. (2016). Tea: Hydration and other health benefits. Primary Health Care, 26(8), 34-42.https://doi.org/10.7748/phc.2016.e1162

            Với bài báo hàng ngày: Tiến Long, Thành Chung. (16/6/2025). Quốc hội “chốt” mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, chính thức bỏ cấp huyện. https://tuoitre.vn/quoc-hoi-chot-mo-hinh-chinh-quyen-dia-phuong-2-cap-chinh-thuc-bo-cap-huyen-20250616085445565.htm

               Spring A., & Earl, C. (22 May 2018). Just not blonde: How the diversity push is falling Australian fashion. The Guardian: Australian Edition. https://www.theguardian.com/fashion/2018/may/22/just-not-blonde-how-the-diversity-push-is-falling-australian-fashion

            Với kỷ yếu hội thảo: Trương Thị Khánh Hà, Nguyễn Văn Lượt, Trần Hà Thu. (2017). Sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em: Một số khía cạnh liên quan đến gia đình và trường học. Trong Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Tâm lý học khu vực Đông Nam Á lần thứ nhất: Hạnh phúc con người và phát triển bền vững. 65-73. Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội. Hà Nội.

  Blakey, N., Guinea, S., & Saghafi, F. (2017). Transforming undergraduate nursing curriculum by aligning models of clinical reasoning through simulation. In: Walker, R. & Bedford, R. (Eds.). Research and development in higher education. Vol. 40. Curriculum Transformation. http://www.herdsa.org.au/research-and-development-higher-education-vol-40-25

            Với luận văn, luận án: Phạm Thị Tính. (2015). Quyền con người được sống trong môi trường trong lành ở Việt Nam. [Luận án Tiến sỹ Luật học, Học viện Khoa học xã hội].

Mosek, E. (2017). Team flow: The missing piece in performance [Doctoral dissertation, Victoria University]. Victoria University Research Repository. http://vuir.vu.edu.au/35038/

       Với báo cáo: Chính phủ. (2020). Việc thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2019 và giai đoạn 2011 - 2020 (Số: 362/BC-CP).

Australian Bureau of Statistics. (2017). Childhood education and care (No.4402.0). https://www.abs.gov.au/AUSSTATS/abs@.nsf/Lookup/4402.0Main+Features1June%202017?OpenDocument

            Với tài liệu trên Internet: Nguyễn Thị Hoài Lê. (20/72023). Kiến thức tài chính của sinh viên Việt Nam: Thực trạng và các vấn đề đặt ra. Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng. https://hvnh.edu.vn/tapchi/vi/thang-7-2023/kien-thuc-tai-chinh-cua-sinh-vien-viet-nam-thuc-trang-va-cac-van-de-dat-ra-nguyen-thi-hoai-le-10793.html

Johnson, A. (24 May 2018). “It doesn’t need to be this way”: The promise of specialized early intervention in psychosis services. IEPA. https://iepa.org.au/netwwork-news/it-doesnt-need-to-be-this-way-the-promise-of-specialised-early-intervention-in-psychosis-services/

8.     Ban biên tập đánh giá bản thảo bài gửi đăng dựa trên chất lượng khoa học, không phân biệt giới tính, tôn giáo, dân tộc, quốc tịch, tổ chức, v.v.. Quy trình đánh giá công bằng, minh bạch. Giữ bí mật thông tin bài báo trong quá trình xét duyệt. Không sử dụng thông tin chưa công bố cho lợi ích cá nhân. Thu hồi bài báo khi phát hiện gian lận hoặc sai sót nghiêm trọng. Tôn trọng ý kiến của người phản biện. có quyền sửa chữa bài viết theo yêu cầu của Tạp chí (chúng tôi sẽ trao đổi với tác giả nếu thấy cần thiết để tác giả chỉnh sửa). Ban biên tập có quyền sử dụng bài viết đã được đăng trên Tạp chí (bản giấy) để đăng tải lên nền tảng số theo định hướng phát triển của Tạp chí.

9.     Bài gửi đến Tòa soạn phải có đầy đủ thông tin liên hệ, gồm:

        Họ và tên tác giả, học hàm, học vị, chức danh (nếu có);

        Địa chỉ nơi công tác và số điện thoại, địa chỉ email;

        Bài gửi đến thuộc ngành/ liên ngành nào theo phân ngành/ liên ngành của Hội đồng chức danh Giáo sư nhà nước (tác giả chủ động lựa chọn).

        Bài gửi đến phục vụ cho đề tài, dự án nghiên cứu, luận văn, luận án.

10. Phí phản biện: Tạp chí không thu phí phản biện các bài viết do Tạp chí đặt hàng.

Các bài viết khác sẽ được thông báo mức phí phản biện kèm với kết quả sơ duyệt.