Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả theo dõi đường huyết bằng thiết bị theo dõi đường huyết liên tục ở thai phụ đái tháo đường có điều trị insulin

Các tác giả

  • Văn Nguyên Vũ BVĐK tỉnh Hải Dương, Trường ĐHKTYT Hải Dương
  • Khoa Diệu Vân Nguyễn Đại học Y Hà Nội image/svg+xml

Từ khóa

thai phụ đái tháo đường, theo dõi đường máu liên tục

DOI:

https://doi.org/10.47122/VJDE.2024.75.9

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Đái tháo đường (ĐTĐ) ở phụ nữ mang thai là đối tượng cần chăm sóc đặc biệt, yêu cầu kiểm soát đường huyết chặt chẽ nhằm làm giảm các kết cục xấu cho cả mẹ và thai trước, trong và sau khi sinh. Theo dõi đườn huyết khoảng kẽ bằng thiết bị theo dõi đường huyết liên tục (CGM: continuos glucose monitoring) có nhiều ưu điểm: xác định nhanh chỉ số đường huyết, xác định được đường huyết ở mọi thời điểm trong ngày, an toàn, không gây đau, có thể kết nối với phần mềm máy tính hoặc smartphone giúp cảnh báo nguy hiểm tức thì, hiển thị hoặc trích xuất được dữ liệu dao động đường huyết, hạ đường huyết đặc biệt là hạ đường huyết về đêm không triệu chứng. Khuyến cáo lâm sàng gần đây đề nghị sử dụng thiết bị CGM cho mọi đối tượng bệnh nhân ĐTĐ trong đó có ĐTĐ mang thai. Mục tiêu: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở thai phụ đái tháo đường có điều trị insulin tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương. 2. Phân tích kết quả theo dõi đường huyết bằng thiết bị theo dõi đường máu liên tục và phác đồ điều trị insulin trong 14 ngày ở nhóm đối tượng nghiên cứu trên. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 40 bệnh nhân ĐTĐ mang thai có sử dụng insulin điều trị nội trú tại khoa Nội tiết Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương từ tháng 10/2023 đến tháng 6/2024 được tư vấn, theo dõi, điều trị và sử dụng thiết bị CGM. Phương pháp mô tả trong 14 ngày được sử dụng thiết bị CGM. Mô tả và đánh giá các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng, đặc biệt phân tích kết quả theo dõi đường huyết được hiển thị trên phần mềm máy tính. Kết quả: Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng: ĐTĐ type 1 (15,0%), ĐTĐ type 2 (27,5%), ĐTĐ thai kỳ 57,5%; mang thai lần 1 là 12,5%, lần 2 là 25,0%; từ lần 3 trở lên là 62,5%. Thừa cân béo phì 27,5%, IVF 10,0%, Bố (mẹ) có ĐTĐ 2,5%, tuổi mẹ ≥ 30 là 77,5%; có triệu chứng tăng đường huyết 30%,  siêu âm thai to 7,5%, đa ối 5,0%, song thai 2,5%; xê tôn niệu dương tính 25%, tỷ lệ glucose niệu và protein niệu là 5%, đường huyết đói trung bình 6,2 ± 1,1; đường huyết sau làm nghiệm pháp 1h: 12,9 ± 2,4, 2h: 11,9 ± 3,3; Hba1c: 5,6 ± 1,1; insulin nền: 8 ± 6; tổng liều insulin: 21±11. Phân tích kết quả: 17,5 % có mức tăng đường huyết rất cao (≥13,9mmol/l), 77,5 % có mức tăng đường huyết cao (10,1-13,9 mmol/l); đường huyết mục tiêu (3,9-10,0 mmol/l) chung 87,5%, tối ưu khuyến cáo cho ĐTĐ mang thai (TIR ≥ 90%) là 50%, tỷ lệ hạ đường huyết nhẹ (3,0-3,8mmol/l) 87,5%, HĐH nặng (<3,0mmol/l) 37,5%; phác đồ insulin 4 mũi ở 100% ĐTĐ type 1 và type 2, 17,4% ĐTĐ thai kỳ chỉ sử dụng insulin nhanh 2 mũi trước ăn, 82,6% sử dụng phác đồ 4 mũi; triệu chứng hạ ĐH nhẹ thoáng qua gặp ở 43,5% ĐTĐ thai kỳ, ở 16,7% ĐTĐ type 1 và 18,2% ĐTĐ type 2, hạ đường huyết triệu chứng rõ xuất hiện ở 16,7% ĐTĐ type 1 và 9,1% BN ĐTĐ type 2, không có với BN ĐTĐ thai kỳ.

Lượt tải

Chưa có dữ liệu tải xuống.

Lượt tải xuống

Đã Xuất bản

2025-03-05

Số

Chuyên mục

Nghiên cứu