Tạp chí Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới
https://www.vjol.info.vn/index.php/tcncconnguoigiadinhvagioi-vie
<h3>Tạp chí của Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam<br><strong>Tên cũ: Tạp chí Nghiên cứu Con ngườ</strong>i: <a href="https://vjol.info.vn/index.php/ihs">https://vjol.info.vn/index.php/ihs</a><br> Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới: <a href="https://ifgs.vass.gov.vn/journal/Journal-of-Family-and-Gender-Studies--English-version-.html">https://ifgs.vass.gov.vn/journal/Journal-of-Family-and-Gender-Studies--English-version-.html</a></h3>vi-VNTạp chí Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới3093-3307Mục lục tiếng Anh
https://www.vjol.info.vn/index.php/tcncconnguoigiadinhvagioi-vie/article/view/131990
<p>Mục lục Tạp chí Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới số 3(03) 2025</p>Tạp chí Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới
2026-02-102026-02-103(03)34Mục lục tiếng Việt
https://www.vjol.info.vn/index.php/tcncconnguoigiadinhvagioi-vie/article/view/131985
<p>Mục lục Tạp chí Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới số 3(03) 2025</p>Tạp chí Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới
2026-02-102026-02-103(03)12Nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong phát triển con người Việt Nam hiện nay - quan điểm, định hướng và giải pháp đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
https://www.vjol.info.vn/index.php/tcncconnguoigiadinhvagioi-vie/article/view/131992
<p><strong>Tóm tắt</strong>: Bài viết nêu 11 nội dung căn bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và phát triển con người (PTCN): nội hàm và ngoại diên bao trùm từ con người nhân loại đến con người cá nhân; bản chất con người phần lớn là do giáo dục, giải phóng con người về chính trị là trước hết; giải phóng con người về kinh tế; về văn hóa; về lao động; về xã hội; giải phóng sức sáng tạo; PTCN toàn diện; hiện thực hóa quyền con người; con người là trung tâm, là động lực, là mục tiêu, là chủ thể. Tiếp đó, bài viết nêu nội hàm của thời kỳ mới với bối cảnh mới trong nước với 5 nội dung và bối cảnh quốc tế cũng bao hàm 5 nội dung khác nhau. Trên cơ sở đó, bài viết nêu 7 định hướng giải pháp chủ yếu nhằm nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng và PTCN Việt Nam đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045: <em>Thứ nhất</em>, tiếp tục nâng cao nhận thức; <em>Thứ hai, </em>đổi mới phương thức học tập, vận dụng và phát triển sáng tạo; <em>Thứ ba,</em> tiếp thu và vận dụng có chọn lọc các tư tưởng tiến bộ; <em>Thứ tư, </em>quyết liệt đột phá mạnh vào những điểm nghẽn; <em>Thứ năm</em>, đột phá trong thể chế xây dựng và PTCN; <em>Thứ sáu</em>, xây dựng hệ giá trị con người; <em>Thứ bảy</em>, 6 giải pháp cụ thể đối với đảng viên và các tổ chức Đảng.</p>Hải Lương ĐìnhChi Đặng Hà
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới
2026-02-102026-02-103(03)522Phát triển con người ở Trung Quốc và ở Việt Nam giai đoạn 1995 - 2025 qua dữ liệu của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP)
https://www.vjol.info.vn/index.php/tcncconnguoigiadinhvagioi-vie/article/view/131996
<p><strong>Tóm tắt</strong>: Trước năm 1980, cả hai quốc gia Trung Quốc và Việt Nam đều chìm trong tất cả các tiêu chuẩn của tình trạng đói nghèo và chậm phát triển. Cách mạng văn hóa ở Trung Quốc và khủng hoảng kinh tế - xã hội ở Việt Nam đã ảnh hưởng nặng nề đến sự phát triển con người (PTCN). Bằng đường lối “Khai phóng” và “Đổi mới”, từ giữa những năm 80 (thế kỷ XX), Trung Quốc bắt đầu “trỗi dậy” và Việt Nam bắt đầu phát triển. Với tốc độ tăng trưởng trên 10% trong suốt 30 năm, Trung Quốc thực sự trở thành cường quốc có tốc độ phát triển nhanh và ngoạn mục. Năm 2010, kinh tế Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản để giành vị trí thứ hai thế giới. Năm 2009, Việt Nam cũng bước vào ngưỡng đầu tiên của thu nhập trung bình.</p> <p>Trong mối quan hệ nhân quả với sự biến động kinh tế - xã hội, thực trạng PTCN ở Trung Quốc và ở Việt Nam 30 năm qua, giai đoạn 1995 - 2025, trên thực tế đã đạt tới những thành tựu mà trước đây không nhiều người dám mơ ước. Con người kinh tế, con người sinh học, con người văn hóa, v.v. ở Trung Quốc và ở Việt Nam đều có những biến chuyển tích cực. Năm 2014, Trung Quốc trở thành một trong số 52 quốc gia đạt tiêu chuẩn “PTCN cao” (High Human Development). Sau đó 6 năm, năm 2020, Việt Nam cũng đạt chuẩn này. Năm 2025, chỉ số hạnh phúc của người Trung Quốc đã xếp hạng thứ 68 và Việt Nam xếp hạng thứ 46 trong số 143 quốc gia được khảo sát - tức là ở mức độ khá cao của châu Á và thế giới.</p>Quý Hồ Sĩ
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới
2026-02-102026-02-103(03)2336Thanh âm tâm thức - một cách tiếp cận của triết học về chiều sâu của ý thức
https://www.vjol.info.vn/index.php/tcncconnguoigiadinhvagioi-vie/article/view/131999
<p><strong>Tóm tắt</strong>: “Thanh âm tâm thức” được đặt ra như một ẩn dụ triết học để tiếp cận bản chất của ý thức con người, gợi mở khả năng lắng nghe những rung động tinh vi của đời sống nội tâm. Từ truyền thống phương Đông với những suy tư về tâm, tính và sự giác ngộ, cho đến hiện tượng học và hiện sinh phương Tây với nỗ lực giải minh kinh nghiệm sống và sự hiện diện, nhiều luận điểm đa dạng được triển khai nhằm làm rõ sự vận hành nội tại của ý thức, những vang vọng tinh thần và chiều sâu nội tâm vốn thường bị che khuất trong nhịp sống hiện đại. Qua đó, việc nghiên cứu ý thức được khẳng định không chỉ ở bình diện nhận thức luận, mà còn như một con đường nhân sinh, gắn với khát vọng tự do, sự thức tỉnh bản ngã và khả năng giải phóng con người trước những ràng buộc xã hội, tinh thần và văn hóa trong bối cảnh đương đại.</p>Tuấn Võ Anh
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới
2026-02-102026-02-103(03)3752Văn hóa gia đình và định hướng xây dựng môi trường văn hóa gia đình ở cơ sở hiện nay
https://www.vjol.info.vn/index.php/tcncconnguoigiadinhvagioi-vie/article/view/132003
<p><strong>Tóm tắt: </strong>Gia đình là tế bào của xã hội, là môi trường đầu tiên và bền bỉ nhất trong hành trình hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, qua đó bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc. Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, cấu trúc gia đình Việt Nam biến đổi nhanh chóng, vừa mở ra cơ hội vừa đặt ra thách thức đối với nền tảng giá trị và môi trường văn hóa gia đình. Bài viết tổng thuật khái niệm, cấu phần của văn hóa gia đình; cập nhật một số chỉ báo thực chứng gần đây về quy mô, tỉ lệ bạo lực đối với phụ nữ trong hôn nhân và các vấn đề liên quan; rà soát khung chủ trương, pháp luật hiện hành và đề xuất định hướng nội dung và nhóm giải pháp xây dựng môi trường văn hóa gia đình ở cơ sở theo hướng ấm no, tiến bộ, bình đẳng, hạnh phúc, phù hợp yêu cầu phát triển bền vững hiện nay.</p>Bình Hoàng Thị
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới
2026-02-102026-02-103(03)5360Quan điểm của Mary Wollstonecraft về tình yêu và hôn nhân trong tác phẩm A Vindication of the Rights of Woman
https://www.vjol.info.vn/index.php/tcncconnguoigiadinhvagioi-vie/article/view/132008
<p><strong>Tóm tắt</strong>: Bài viết phân tích quan điểm của Mary Wollstonecraft về tình yêu, hôn nhân và bình đẳng giới trong tác phẩm <em>A Vindication of the Rights of Woman</em> (Minh chứng cho những quyền của phụ nữ) (năm 1792). Wollstonecraft phê phán mô hình tình yêu lãng mạn, đề cao lí trí, tình bạn và sự tôn trọng lẫn nhau trong mối quan hệ vợ chồng. Nghiên cứu xem xét bối cảnh lịch sử - xã hội cuối thế kỉ 18 ở Anh, làm rõ những thách thức mà Wollstonecraft phải đối mặt khi đề xuất lí tưởng hôn nhân bình đẳng. Phân tích cách Wollstonecraft kết nối tình yêu, hôn nhân với sự phát triển cá nhân và bình đẳng giới, đồng thời so sánh quan điểm của bà với các lí thuyết nữ quyền đương đại. Thông qua phân tích nội dung và phương pháp tiếp cận lịch sử, nghiên cứu khẳng định giá trị của tác phẩm trong việc thúc đẩy bình đẳng giới và xây dựng mối quan hệ hôn nhân lành mạnh.</p>Minh Nguyễn Thị Tuyết
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới
2026-02-102026-02-103(03)6172Các yếu tố xã hội tác động đến ý định sinh con ở Việt Nam: góc nhìn từ lý thuyết xã hội học
https://www.vjol.info.vn/index.php/tcncconnguoigiadinhvagioi-vie/article/view/132013
<p><strong>Tóm tắt</strong>: Bài viết này phân tích các yếu tố xã hội tác động đến mức sinh thấp ở Việt Nam dựa trên hướng tiếp cận sinh đẻ như một hành vi xã hội có tính chiến lược. Các nhân tố xã hội được lựa chọn phân tích bao gồm: (1) Giá trị con cái và nguồn lực gia đình; (2) Vị thế xã hội và chiến lược sống; (3) Nhận thức về bình đẳng giới. Việc lựa chọn này dựa trên ba lý thuyết xã hội học chủ đạo được sử dụng trong bài: lựa chọn hợp lý; vị thế và vai trò xã hội; vai trò giới. Các lý thuyết xã hội học này vốn cho phép liên kết các kết quả nghiên cứu ở Việt Nam vào một khung phân tích chung, đồng thời cũng thể hiện một cách tiếp cận mới thông qua việc tích hợp ba khung lý thuyết xã hội học. Phân tích trong bài viết cũng sử dụng mức sinh như chỉ báo kết cục, nhưng trọng tâm là giải thích các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn sinh con.</p>Thúy Cù Thị Thanh
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới
2026-02-102026-02-103(03)7385Thách thức trong giáo dục đối với trẻ em người dân tộc thiểu số ở nước ta
https://www.vjol.info.vn/index.php/tcncconnguoigiadinhvagioi-vie/article/view/132016
<p><strong>Tóm tắt</strong>: Dựa trên phân tích số liệu điều tra cấp quốc gia, số liệu cấp tỉnh và nghiên cứu định tính, bài viết chỉ ra những thách thức mà trẻ em người dân tộc thiểu số (DTTS) phải đối mặt trên phương diện giáo dục phổ thông. Mặc dù đã có nhiều hỗ trợ từ nhà nước nhưng vẫn tồn tại khoảng cách về chất lượng giáo dục giữa trẻ em người DTTS so với mặt bằng chung của cả nước. Cơ hội học tập bậc cao của nhóm trẻ em này vì thế vẫn còn hạn chế. Điều kiện kinh tế, môi trường sống, cơ sở vật chất trong trường học, điều kiện học tập, rào cản về ngôn ngữ, định kiến về giới là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thực tế này.</p>Hiệu Giang Hoàng
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới
2026-02-102026-02-103(03)8697Thực trạng khác biệt giới trong sử dụng các thiết bị công nghệ số
https://www.vjol.info.vn/index.php/tcncconnguoigiadinhvagioi-vie/article/view/132018
<p><strong>Tóm tắt</strong>: Dựa trên các tư liệu khảo sát năm 2024 tại 3 tỉnh Bắc Kạn, Phú Yên và Cần Thơ trong khuôn khổ đề tài cấp Bộ do Học viện Phụ nữ Việt Nam chủ trì, bài viết phân tích sự khác biệt giới trong việc sử dụng thiết bị công nghệ số. Kết quả cho thấy, điện thoại và ti vi thông minh là hai thiết bị được sử dụng phổ biến nhất, trong đó nữ giới có xu hướng sử dụng điện thoại nhiều hơn nam giới. Có sự khác biệt rõ nét về giới trong mục đích và mức độ sử dụng: nữ giới chủ yếu sử dụng cho mục đích giải trí, kết nối và giao tiếp, mua sắm trực tuyến, thanh toán điện tử, trong khi nam giới ưu tiên cho các mục đích giải trí, làm việc, thủ tục hành chính, đọc báo và du lịch. Nữ giới có xu hướng sử dụng các ứng dụng liên quan đến tin nhắn, mạng xã hội, ngân hàng trực tuyến, trong khi nam giới thiên về các ứng dụng học tập, quản lý thời gian, bản đồ và du lịch. Về trình độ kỹ năng số, cả nam và nữ đều thành thạo các kỹ năng cơ bản, tuy nhiên nam giới thành thạo hơn trong các kỹ năng nâng cao, trong khi nữ giới thể hiện sự thành thạo hơn trong các kỹ năng bảo vệ dữ liệu và vận hành thiết bị cơ bản. Nữ giới gặp nhiều khó khăn hơn nam giới khi sử dụng các thiết bị công nghệ số.</p>Hà Trương Thị Thúy
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới
2026-02-102026-02-103(03)98118Tác động của chuyển đổi số đến quan hệ giới trong gia đình Việt Nam hiện nay: Vấn đề và một số khuyến nghị chính sách
https://www.vjol.info.vn/index.php/tcncconnguoigiadinhvagioi-vie/article/view/132020
<p><strong>Tóm tắt</strong>: Bài viết phân tích những tác động của chuyển đổi số đến quan hệ giới trong gia đình Việt Nam hiện nay, từ đó chỉ ra những biến đổi trong phân công lao động, quyền ra quyết định, giao tiếp nội bộ và các mối quan hệ liên thế hệ. Dưới ảnh hưởng của công nghệ, một số biểu hiện bất bình đẳng giới có xu hướng giảm bớt, song cũng đồng thời xuất hiện các hình thức bất bình đẳng mới, đặc biệt với phụ nữ, trẻ em và người cao tuổi. Chuyển đổi số tạo ra cả cơ hội và thách thức đối với việc xây dựng gia đình bình đẳng, dân chủ, tiến bộ. Từ các phân tích, bài viết đề xuất một số định hướng chính sách và hành động nhằm lồng ghép vấn đề giới vào quá trình số hóa đời sống gia đình, góp phần thúc đẩy công bằng giới và phát triển bền vững trong bối cảnh mới.</p> <p> </p> <p><a href="#_ftnref1" name="_ftn1"></a></p>Đi Phạm
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới
2026-02-102026-02-103(03)119133Quá trình phát triển nguồn nhân lực tỉnh Bình Phước giai đoạn 1997 - 2010 dưới góc nhìn lịch sử
https://www.vjol.info.vn/index.php/tcncconnguoigiadinhvagioi-vie/article/view/132021
<p><strong>Tóm tắt</strong>: Sau khi tái lập vào năm 1997, tỉnh Bình Phước đối mặt với nhiều khó khăn về cơ sở hạ tầng, chất lượng dân trí và năng lực đội ngũ lao động, nhất là trong bối cảnh toàn quốc đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 1997 - 2010, Bình Phước xác định nguồn nhân lực là yếu tố then chốt, có vai trò quyết định đối với quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế và hội nhập. Bài viết này tập trung trình bày bối cảnh lịch sử ngày đầu tái lập; Chủ trương, chính sách của Trung ương và Đảng bộ tỉnh về phát triển nguồn nhân lực; Thực trạng nguồn nhân lực tỉnh Bình Phước giai đoạn 1997 - 2010.</p>Hương Nguyễn Thị
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới
2026-02-102026-02-103(03)134154TỔNG MỤC LỤC TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU CON NGƯỜI, GIA ĐÌNH VÀ GIỚI NĂM 2025
https://www.vjol.info.vn/index.php/tcncconnguoigiadinhvagioi-vie/article/view/132022
<p>TỔNG MỤC LỤC TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU CON NGƯỜI, GIA ĐÌNH VÀ GIỚI NĂM 2025</p>Tạp chí Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới
2026-02-102026-02-103(03)155158