Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản
https://www.vjol.info.vn/index.php/tckhcnthuysan
<p><strong>Tạp chí Khoa học của Trường Đại học Nha Trang</strong></p>Trường Đại học Nha Trangvi-VNTạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản1859-2252Nghiên cứu ban đầu về khả năng sử dụng sợi basalt thay thế sợi thủy tinh ứng dụng trong đóng tàu composite
https://www.vjol.info.vn/index.php/tckhcnthuysan/article/view/133999
<p><em>Trong nội dung bài báo này, kết quả nghiên cứu các tính chất cơ bản của vật liệu composite trên nền vật liệu Polyester không no, Reversol P9509NW, gia cường xấp xỉ 57 % về khối lượng từ vải sợi Basalt Fabric Type TBK-100 được cung cấp bởi Basfiber®, Kamenny Vek, Russia do đối tác nghiên cứu từ Khoa Cơ khí, Trường Đại học Kỹ thuật Liberec, Cộng hòa Séc hỗ trợ sẽ được trình bày. Kết quả về độ bền kéo, độ bền uốn, độ mài mòn và độ hấp thụ nước được dùng để so sánh đối chứng với các tính chất của vật liệu composite gia cường bằng 01 chủng loại sợi thủy tinh (khoảng 55% về khối lượng) đang được sử dụng trong hoạt động đóng tàu, đồng thời viện dẫn với yêu cầu kỹ thuật của Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia Việt Nam QCVN 56:2013/BGTVT về phân cấp và đóng tàu làm bằng chất dẻo cốt sợi thủy tinh. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy vật liệu composite gia cường bằng sợi basalt được chọn có cơ tính xấp xỉ bằng hoặc tốt hơn về độ bền kéo và độ bền uốn, và tương đương về độ mài mòn so với vật liệu composite gia cường bằng sợi thủy tinh. Từ đó cho thấy tiềm năng sử dụng sợi basalt</em> <em>thay thế sợi thủy tinh ứng dụng trong đóng tàu composite, hướng tới phát triển bền vững tại Việt Nam.</em></p> <p><strong>DOI:</strong> <a href="https://doi.org/10.53818/jfst.04.2025.553">https://doi.org/10.53818/jfst.04.2025.553</a></p>Trần Doãn HùngMai Đình Nam
Bản quyền (c)
2025-12-292025-12-2904003014Xây dựng mô hình thương mại điện tử phân phối thủy sản đặc trưng Khánh Hòa theo hướng bền vững
https://www.vjol.info.vn/index.php/tckhcnthuysan/article/view/134000
<p><em>Bài báo này trình bày một mô hình nghiên cứu tích hợp thương mại điện tử (thương mại điện tử (TMĐT)) với Logistics xanh nhằm nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng thủy sản tại tỉnh Khánh Hòa. Trên cơ sở phân tích thực trạng sản xuất, phân phối và nhu cầu của các bên liên quan, nền tảng SeaFood được đề xuất như một giải pháp số hóa toàn diện, kết hợp mạng lưới phân phối trực tuyến với hệ thống quản lý vận chuyển theo thời gian thực (real-time hệ thống quản lý vận tải (TMS)). Phương pháp nghiên cứu bao gồm khảo sát thực địa, phân tích SWOT và đánh giá chi phí – lợi ích nhằm kiểm chứng tính khả thi của mô hình. Kết quả cho thấy việc áp dụng TMĐT cùng Logistics xanh không chỉ giúp giảm chi phí nhiên liệu và phát thải CO₂ mà còn tăng tính minh bạch trong quản lý đơn hàng, tối ưu hóa kho lạnh và nâng cao niềm tin của người tiêu dùng. Đồng thời, mô hình cũng đề xuất lộ trình triển khai theo giai đoạn, phù hợp với điều kiện hạ tầng Logistics và năng lực công nghệ hiện tại của địa phương. Nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc ứng dụng công nghệ số trong phát triển bền vững ngành thủy sản.</em></p> <p><strong>DOI:</strong> <a href="https://doi.org/10.53818/jfst.04.2025.588">https://doi.org/10.53818/jfst.04.2025.588</a></p>Lê Vũ Hoàng GiangHồ Đức TuấnHuỳnh Gia Hòa
Bản quyền (c)
2025-12-292025-12-290401525Ảnh hưởng tiềm tàng của dược phẩm trong thủy vực – lưu ý đối với các loại được sử dụng trong nuôi trồng thủy sản
https://www.vjol.info.vn/index.php/tckhcnthuysan/article/view/134001
<p><em>Sự phát thải dược phẩm ra môi trường nước đang trở thành vấn đề toàn cầu do những tác động tiềm tàng đến hệ sinh thái thủy sinh. Nguồn phát sinh chủ yếu là nước thải sinh hoạt, bệnh viện và hoạt động công nghiệp, nông nghiệp bao gồm cả nuôi trồng thủy sản. Trong môi trường nước, dược phẩm có thể trải qua các quá trình biến đổi như quang phân, thủy phân, phân hủy sinh học hoặc tích lũy trong trầm tích. Mặc dù nồng độ thường thấp (ng/L đến µg/L), nhiều trường hợp vượt ngưỡng an toàn sinh thái, gây ảnh hưởng đến vi sinh vật, tảo, cá và các loài thủy sinh khác. Những tác động ghi nhận gồm rối loạn hormone, thay đổi tập tính, giảm sinh trưởng, giảm sinh sản và phát sinh tình trạng kháng kháng sinh. Ngành nuôi trồng thủy sản, đặc biệt ở Việt Nam, hiện sử dụng phổ biến kháng sinh, thuốc diệt ký sinh trùng và hóa chất phòng trị bệnh, góp phần đáng kể vào ô nhiễm môi trường nước bởi dư lượng dược phẩm. Do đó, cần quản lý chặt chẽ việc sử dụng dược phẩm trong nuôi trồng thủy sản, nâng cao nhận thức cộng đồng và áp dụng biện pháp giám sát– kiểm soát là yêu cầu cấp bách nhằm bảo vệ hệ sinh thái thủy sinh.</em></p> <p><strong>DOI:</strong> <a href="https://doi.org/10.53818/jfst.04.2025.595">https://doi.org/10.53818/jfst.04.2025.595</a></p>Nguyễn Văn Quỳnh BôiTrương Thị Bích HồngTôn Nữ Mỹ Nga
Bản quyền (c)
2025-12-292025-12-2904026041Đánh giá hiện trạng bảo quản sản phẩm thủy sản trên tàu nghề lưới chụp của tỉnh Lâm Đồng
https://www.vjol.info.vn/index.php/tckhcnthuysan/article/view/134003
<p><em>Bài báo trình bày kết quả đánh giá hiện trạng bảo quản sản phẩm trên tàu nghề lưới chụp tại tỉnh Lâm Đồng bằng hai phương pháp phỏng vấn ngư dân (30 mẫu) và khảo sát trực tiếp trên tàu (30 mẫu) bằng phiếu thiết kế sẵn và phương pháp phân loại sản phẩm theo phương pháp của FAO (1995). Kết quả cho thấy chiều dài tàu trung bình là (21,2 ± 3,6) m, công suất trung bình của máy chính là (536,4 ± 213,8) CV. Vật liệu cách nhiệt chính của hầm bảo quản là xốp (77,8%) với thể tích trung bình (17,0 ± 7,8) m³ và sức chứa (5,8 ± 3,0) tấn/hầm; tất cả tàu có sử dụng khay nhựa và túi PE để chứa sản phẩm, một số kết hợp thùng nhựa hoặc khay thiếc. Có 100% tàu sử dụng phương pháp bằng đá xay, trong đó 55,6% có sử dụng cấp đông và 55,6% bảo quản lạnh. Tỷ lệ sản phẩm loại A dao động 10,0 </em><em>÷</em><em> 100,0%, trung bình (46,9 ± 23,0)%; giá trị loại B cao hơn loại C 1,8 lần, loại C cao hơn loại D 1,5 lần và loại D giảm giá trị so với loại A trung bình (34,5 ± 17,7)%.</em></p> <p><strong>DOI:</strong> <a href="https://doi.org/10.53818/jfst.04.2025.596">https://doi.org/10.53818/jfst.04.2025.596</a></p>Võ Thị Thanh VânPhạm Văn LongTrương Quốc CườngNguyễn Phan Phước Long
Bản quyền (c)
2025-12-292025-12-2904042053Ảnh hưởng của phương pháp dẫn truyền đến hiệu quả bảo hộ của vaccine Siseafood preservation ở cá chẽm Lates calcarifer (Bloch, 1790)
https://www.vjol.info.vn/index.php/tckhcnthuysan/article/view/134004
<p><em>Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả của các phương pháp dẫn truyền vaccine bất hoạt Streptococcus iniae (SiV) đến khả năng đáp ứng miễn dịch và bảo hộ ở cá chẽm (Lates calcarifer). Thí nghiệm bao gồm ba nghiệm thức: Ngâm hai lần (NT1), ngâm kết hợp tiêm (NT2) và tiêm hai lần (NT3), với nhóm đối chứng được tiêm dung dịch PBS. Các thông số miễn dịch gồm hiệu giá kháng thể, hàm lượng kháng thể IgM đặc hiệu và hệ số bảo hộ (RPS) được đánh giá tại các mốc thời gian 30, 90 và 180 ngày sau miễn dịch lần hai. Kết quả cho thấy, hiệu giá và hàm lượng kháng thể, cũng như hệ số bảo hộ RPS đều giảm dần theo thời gian tuỳ thuộc phương pháp dẫn truyền vaccine. Trong đó, phương pháp tiêm hai lần (NT3) đạt hiệu quả cao nhất với hàm lượng kháng thể đạt OD₄₉₂ = 0,405, hiệu giá ngưng kết 1:147 và hiệu quả bảo hộ RPS đạt 94,4% tại 30 ngày sau gây miễn dịch và duy trì trên 80 % đến 180 ngày. Phương pháp ngâm tiêm kết hợp (NT2) cũng cho kết quả bảo hộ tương đối cao (70,8% -76,7%). Ngược lại, ngâm đơn thuần (NT1) chỉ tạo đáp ứng miễn dịch thấp và bảo hộ không bền vững. Những kết quả này khẳng định phương pháp tiêm lặp lại là tối ưu trong việc tạo đáp ứng miễn dịch mạnh, bền vững và thích hợp để áp dụng trong điều kiện nuôi thương phẩm cá chẽm quy mô lớn. Đồng thời, việc kết hợp các phương pháp dẫn truyền như ngâm – tiêm có thể là hướng đi khả thi để cân bằng giữa hiệu quả bảo hộ và tính thực tiễn trong sản xuất.</em></p> <p><strong>DOI: </strong><a href="https://doi.org/10.53818/jfst.04.2025.601">https://doi.org/10.53818/jfst.04.2025.601</a></p>Nguyễn Thị Thanh ThùyNguyễn Thị Quế ChiLê Hồng TuấnNguyễn Văn HùngNguyễn Đức Toàn
Bản quyền (c)
2025-12-292025-12-2904054063Phân lập và tuyển chọn chủng vi khuẩn ưa nhiệt từ suối nước nóng trường xuân có khả năng sinh tổng hợp enzyme chitinase bền nhiệt
https://www.vjol.info.vn/index.php/tckhcnthuysan/article/view/134005
<p><em>Suối khoáng nóng là một trong những môi trường sống chính của các vi sinh vật ưa nhiệt - nguồn cung cấp nhiều hoạt chất sinh học quan trọng được ứng dụng trong công nghiệp, đặc biệt là các enzyme bền nhiệt. Mục tiêu của nghiên cứu này là phân lập và tuyển chọn các chủng vi khuẩn ưa nhiệt có khả năng sinh enzyme chitinase bền nhiệt từ suối nước nóng Trường Xuân, Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà. Từ 20 mẫu nước, bùn và đất, đã phân lập được 63 chủng ưa nhiệt, trong số đó 18 chủng có khả năng sinh enzyme chitinase. Chủng TX9 thể hiện hoạt tính enzyme chitinase cao nhất với đường kính vòng phân giải chitin 25,33 ± 0,58 mm. Chủng TX9 có khả năng sinh tổng hợp enzyme chitinase có hoạt độ cao nhất khi nuôi cấy ở 50<sup>o</sup>C với tốc độ lắc 180 rpm trong 48 giờ. Enzyme chitinase sinh ra từ chủng này có đặc tính bền nhiệt trong khoảng nhiệt độ từ 50<sup>o</sup>C - 70<sup>o</sup>C trong 60 phút. Kết quả nhuộm Gram và thử nghiệm sinh hóa cho thấy chủng TX9 là vi khuẩn hình que, gram dương, catalase dương tính và sinh bào tử. Từ kết quả phân tích trình tự gen16S rRNA, chủng TX9 được xác định thuộc loài Bacillus licheniformis với độ tương đồng 99,85%. Từ các kết quả thu được cho thấy chủng vi khuẩn ưa nhiệt Bacillus licheniformis TX9 là chủng tiềm năng sinh enzyme chitinase bền nhiệt theo định hướng ứng dụng sử dụng trong công nghiệp như xử lý môi trường.</em></p> <p><strong>DOI: </strong><a href="https://doi.org/10.53818/jfst.04.2025.602">https://doi.org/10.53818/jfst.04.2025.602</a></p>Phạm Thị LanNguyễn Thị ChínhNguyễn Thị Kim CúcNguyễn Thị Như Thường
Bản quyền (c)
2025-12-292025-12-2904064076Nghiên cứu chế độ sấy tôm thẻ xẻ bụng bằng thiết bị sấy bức xạ hồng ngoại kết hợp năng lượng mặt trời
https://www.vjol.info.vn/index.php/tckhcnthuysan/article/view/134006
<p><em>Nghiên cứu này nhằm xác định chế độ sấy tối ưu nhằm nâng cao giá trị sản phẩm tôm thẻ chân trắng xẻ bụng sấy khô, sử dụng thiết bị sấy kết hợp giữa bức xạ hồng ngoại và năng lượng mặt trời gián tiếp (IR-SE). Quá trình thực nghiệm được thiết kế theo phương pháp Taguchi, với bốn thông số ảnh hưởng chính được khảo sát bao gồm: nhiệt độ buồng sấy (t), khoảng cách từ nguồn bức xạ đến sản phẩm sấy (H), vận tốc không khí sấy (V), và công suất đèn hồng ngoại (IP). Sau khi thu thập dữ liệu thực nghiệm, phương pháp bề mặt đáp ứng (RSM) được áp dụng để tối ưu hóa đồng thời các hàm mục tiêu, nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm sấy, rút ngắn thời gian chế biến, giảm chi phí năng lượng và đảm bảo các đặc tính cảm quan mong muốn của tôm sấy xẻ bụng. Kết quả thu được chế độ sấy tối ưu: nhiệt độ sấy đạt 60°C, công suất đèn hồng ngoại là 1800 W, vận tốc gió là 1,88 m/s và khoảng cách từ nguồn bức xạ đến bề mặt sản phẩm là 34,15 cm. Trong suốt quá trình sấy, độ ẩm của không khí dao động từ 20% đến 25%. Mẫu tôm có độ ẩm ban đầu khoảng 70% và sau khi sấy đạt độ ẩm còn lại khoảng 20 ± 1%, với tổng thời gian sấy tương ứng là 4,03 giờ.</em></p> <p><strong>DOI: </strong><a href="https://doi.org/10.53818/jfst.04.2025.603">https://doi.org/10.53818/jfst.04.2025.603</a></p>Trần Thị Bảo TiênLê Như ChínhNguyễn Văn Duy
Bản quyền (c)
2025-12-292025-12-2904077092Nghiên cứu bể thử số thử kéo tàu cá FAO NO5A khi chạy trên nước tĩnh
https://www.vjol.info.vn/index.php/tckhcnthuysan/article/view/134008
<p><em>Nghiên cứu này trình bày kết quả ứng dụng phương pháp CFD để tạo bể thử số (numerical towing tank) thử kéo lực cản tàu FAO số hiệu 5a trên máy tính. Giải pháp số để giải hệ phương trình Reynolds-Averages Naviers-Stoke của dòng chảy nhớt có mặt thoáng chảy qua vỏ tàu là hai phần mềm CFD thương mại Simerics MP và OrCA3D Marine CFD. Có hai kết quả chính của nghiên cứu này. Kết quả thứ nhất về phương pháp sử dụng bể thử số bằng công cụ OrCA3D và Simerics giúp giảm thao tác trong việc chuẩn bị mô hình hình học, chia lưới so với các phần mềm CFD tổng quát khác như Star-CMM++, Ansys Fluent, hoặc Open FOAM vì lưới và miền tính toán được tạo tự động. Kết quả thứ hai về đặc điểm thủy động của dòng chảy, tại tốc độ khai thác tàu 9 knots của tàu FAO, lực cản tổng có độ sai số tương đối là 4.89% so với kết quả trong bể thử vật lý. Các biểu đồ phân bố áp suất, vận tốc của dòng chảy đều thu được dưới dạng biểu đồ màu rõ nét. Đặc biệt, biên dạng sóng trên vỏ tàu và phân bố chiều cao sóng trên mặt thoáng thu được từ bể thử tương đồng với hiện tượng sóng ngang và sóng dọc khi tàu di chuyển trong thực tế.</em></p> <p><strong>DOI:</strong> <a href="https://doi.org/10.53818/jfst.04.2025.604">https://doi.org/10.53818/jfst.04.2025.604</a></p>Trần Đình TứHuỳnh Văn Vũ
Bản quyền (c)
2025-12-292025-12-2904093101Đánh giá hiệu quả hoạt động của nghề lưới vây khơi ở khu vực Đông Nam Bộ
https://www.vjol.info.vn/index.php/tckhcnthuysan/article/view/134015
<p><em>Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp điều tra ngẫu nhiên chủ tàu và thuyển trưởng của tàu lưới vây khai thác hải sản tại vùng biển khơi Đông Nam Bộ trong năm 2024 nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất của đội tàu. Nghiên cứu đã tiến hành điều tra đặc điểm tàu thuyền, trang thiết bị, ngư trường, đối tượng khai thác, năng suất và hiệu quả kinh tế của 90 tàu lưới vây tại tỉnh Lâm Đồng, Tp Hồ Chí Minh và Đồng Tháp. Kết quả nghiên cứu cho thấy đội tàu lưới vây khơi chủ yếu là tàu vỏ gỗ, với chiều dài trung bình từ 21,6÷25,8 m, công suất máy chính từ 447÷928 CV,</em><em> được trang bị khá đầy đủ các trang thiết bị phục vụ hàng hải và khai thác, cơ bản đáp ứng được yêu cầu trong quá trình sản xuất</em><em>. Đội tàu hoạt động khai thác quanh năm với khoảng 250 ngày/năm, sản lượng trung bình đạt 219÷255 tấn/tàu/năm, lợi nhuận trung bình đạt từ 1,18÷1,20 tỷ đồng/tàu/năm. Đối tượng khai thác chính là cá nổi, trong đó cá nục chiếm tỷ lệ cao nhất. </em><em>Phân tích hồi quy đa biến đã xác định các yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận gồm: đầu tư thiết bị khai thác, kích thước ngư cụ, số lao động, đầu tư thiết bị hàng hải, công suất máy tàu và số ngày khai thác. Trong đó, các yếu tố chính cần đầu tư để nâng cao hiệu quả hoạt động nghề gồm: đầu tư thiết bị khai thác, công suất máy tàu và tăng số ngày khai thác. Các yếu tố cần xem xét giảm đầu tư nhằm tăng lợi nhuận cho đội tàu gồm: kích thước ngư cụ, số lao động và đầu tư thiết bị hàng hải.</em></p> <p><strong>DOI</strong>: <a href="https://doi.org/10.53818/jfst.04.2025.608">https://doi.org/10.53818/jfst.04.2025.608</a></p>Nguyễn Phi ToànPhạm Văn TuấnPhạm Sỹ TấnBùi Như Chiến
Bản quyền (c)
2025-12-292025-12-2904102113Vi nhựa và siêu vi nhựa trong hoạt động nuôi biển – tình hình ở Việt Nam
https://www.vjol.info.vn/index.php/tckhcnthuysan/article/view/134017
<p> <em>Vi nhựa nói chung (≤ 1.000 μm) đưa vào môi trường biển và ven bờ từ các nguồn bên ngoài (sông, đất liền, lắng đọng từ khí quyển…) và/hoặc các hoạt động trên biển (du lịch, vận tải, khai thác và nuôi trồng thủy sản) ngày càng trở nên nghiêm trọng và được quan tâm nhiều do ảnh hưởng nguy hại của chúng đến sinh vật, môi trường và toàn bộ hệ sinh thái bao gồm cả các bộ phận cấu thành trong nuôi biển. Nhiều nghiên cứu cho thấy vi nhựa tích lũy và tác động đến các quá trình sinh lý, hóa sinh, di truyền gây ảnh hưởng đến tập tính và sinh trưởng – phát triển của sinh vật, qua đó làm giảm hiệu quả kinh tế và tiềm ẩn rủi ro đối với người sử dụng, đáng lưu ý đối với các loài giáp xác, thân mềm và cá biển là những đối tượng chủ lực của nuôi biển Việt Nam. Vấn đề tương tự cũng xảy ra ở Việt Nam với các nguồn dữ liệu cho thấy vùng biển ven bờ có khả năng bị ảnh hưởng bởi rác thải nhựa nói chung, vi nhựa nói riêng. Do vậy, theo nguyên tắc “tiếp cận phòng ngừa”, cần tìm hiểu vấn đề và định hướng các giải pháp đối với ô nhiễm vi nhựa trong hoạt động nuôi biển.</em></p> <p><strong>DOI: </strong><a href="https://doi.org/10.53818/jfst.04.2025.612">https://doi.org/10.53818/jfst.04.2025.612</a></p>Nguyễn Văn Quỳnh Bôi
Bản quyền (c)
2025-12-292025-12-2904114127Nghiên cứu thành phần lý-hóa hải sâm cát (Holothuria Scabra) nguyên liệu nuôi tại vùng biển Ninh Hòa, Khánh Hòa
https://www.vjol.info.vn/index.php/tckhcnthuysan/article/view/134019
<p><em>Nghiên cứu đã đánh giá được một số thành phần lý-hóa trên ba nhóm hải sâm cát (Holothuria Scabra), nhóm 5-6 con/kg (nhóm nhỏ), 3-4 con/kg (nhóm trung) và 1-2 con/kg (nhóm lớn) được thu mua tại đìa nuôi ở vùng biển Ninh Hòa, Khánh Hòa. Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự thay đổi rõ rệt trên từng nhóm, cụ thể: Về tỷ lệ phần ăn được (thịt), nhóm nhỏ và nhóm trung có tỷ lệ thấp hơn nhóm lớn từ 8-10%; Về hàm lượng nước, nhóm lớn có hàm lượng nước thấp nhất (77,01%), thấp hơn nhóm nhỏ gần 6,5% và nhóm trung gần 1,0%. Còn ở nhóm trung, hàm lượng nước (78,91%) thấp hơn nhóm nhỏ gần 5,0%; Về chỉ tiêu protein, lipid, carbohydrate, canxi, photpho và tro tổng trên các nhóm hải sâm cát khác nhau đều có sự tăng, giảm khác nhau. Trong đó, hàm lượng protein tăng từ 61,60% đến 74,34%, lipid 3,16% đến 5,89%, carbohydrate 7,29% đến 8,20%, canxi 0,74% đến 1,07%, photpho 0,18% đến 0,49% trong khi hàm lượng tro tổng lại giảm từ 27,64% đến 10,00%. Do đó nên thu hoạch, chế biến và sử dụng hải sâm cát nguyên liệu ở nhóm có trọng lượng lớn sẽ giúp tăng hiệu quả thu hồi phần thịt, tăng giá trị dinh dưỡng, khoáng chất khi sử dụng cùng lượng nguyên liệu.</em></p> <p><strong>DOI:</strong> <a href="https://doi.org/10.53818/jfst.04.2025.618">https://doi.org/10.53818/jfst.04.2025.618</a></p>Trần Văn VươngPhạm Văn Đạt
Bản quyền (c)
2025-12-292025-12-2904128136Đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của dịch chiết tỏi tươi đối với vi khuẩn Vibrio spp. gây bệnh xuất huyết ở cá bớp nuôi tại Khánh Hòa
https://www.vjol.info.vn/index.php/tckhcnthuysan/article/view/134020
<p><em>Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của dịch ép tỏi tươi từ ba loại tỏi (tỏi cô đơn, tỏi tép nhỏ và tỏi Trung Quốc) đối với hai loài vi khuẩn Vibrio harveyi và Vibrio alginolyticus. Kết quả đánh giá hoạt tính kháng khuẩn bằng khuếch tán trên đĩa thạch cho thấy dịch ép tỏi có khả năng ức chế sự phát triển của cả hai loài Vibrio, với đường kính vòng vô khuẩn tăng theo nồng độ. Tỏi cô đơn và tỏi tép nhỏ tạo vòng vô khuẩn lớn hơn có ý nghĩa so với tỏi tép lớn (P < 0,05). V. harveyi nhạy cảm hơn so với V. alginolyticus ở tất cả các nồng độ khảo sát.</em></p> <p><em>Kết quả xác định MIC và MBC của dịch ép tỏi đối với 2 loài vi khuẩn cho thấy giá trị MIC với V harveyi dao động 3,125–6,25% và MBC 6,25–12,50%; trong khi đối với V. alginolyticus, MIC và MBC cao hơn, lần lượt 6,25–12,50% và 12,50–25%. Tỷ lệ MBC/MIC ≤ 4 cho thấy dịch ép tỏi tươi mang tính diệt khuẩn theo tiêu chuẩn của Canillac và Mourey (2001).</em></p> <p><em>Kết quả nghiên cứu cho thấy tiềm năng ứng dụng dịch ép tỏi tươi như một tác nhân kháng khuẩn tự nhiên trong phòng ngừa và kiểm soát bệnh do Vibrio trên cá biển, góp phần hướng tới giải pháp thay thế kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản.</em></p> <p><strong>DOI:</strong> <a href="https://doi.org/10.53818/jfst.04.2025.622">https://doi.org/10.53818/jfst.04.2025.622</a></p>Trần Vĩ HíchHứa Thị Ngọc Dung
Bản quyền (c)
2025-12-292025-12-2904137142