Đánh giá hiệu quả hoạt động của nghề lưới vây khơi ở khu vực Đông Nam Bộ

  • Nguyễn Phi Toàn
  • Phạm Văn Tuấn
  • Phạm Sỹ Tấn
  • Bùi Như Chiến
Từ khóa: đội tàu lưới vây khơi, năng suất khai thác, hiệu quả kinh tế, ngư cụ, thiết bị khai thác

Tóm tắt

Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp điều tra ngẫu nhiên chủ tàu và thuyển trưởng của tàu lưới vây khai thác hải sản tại vùng biển khơi Đông Nam Bộ trong năm 2024 nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất của đội tàu. Nghiên cứu đã tiến hành điều tra đặc điểm tàu thuyền, trang thiết bị, ngư trường, đối tượng khai thác, năng suất và hiệu quả kinh tế của 90 tàu lưới vây tại tỉnh Lâm Đồng, Tp Hồ Chí Minh và Đồng Tháp. Kết quả nghiên cứu cho thấy đội tàu lưới vây khơi chủ yếu là tàu vỏ gỗ, với chiều dài trung bình từ 21,6÷25,8 m, công suất máy chính từ 447÷928 CV, được trang bị khá đầy đủ các trang thiết bị phục vụ hàng hải và khai thác, cơ bản đáp ứng được yêu cầu trong quá trình sản xuất. Đội tàu hoạt động khai thác quanh năm với khoảng 250 ngày/năm, sản lượng trung bình đạt 219÷255 tấn/tàu/năm, lợi nhuận trung bình đạt từ 1,18÷1,20 tỷ đồng/tàu/năm. Đối tượng khai thác chính là cá nổi, trong đó cá nục chiếm tỷ lệ cao nhất. Phân tích hồi quy đa biến đã xác định các yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận gồm: đầu tư thiết bị khai thác, kích thước ngư cụ, số lao động, đầu tư thiết bị hàng hải, công suất máy tàu và số ngày khai thác. Trong đó, các yếu tố chính cần đầu tư để nâng cao hiệu quả hoạt động nghề gồm: đầu tư thiết bị khai thác, công suất máy tàu và tăng số ngày khai thác. Các yếu tố cần xem xét giảm đầu tư nhằm tăng lợi nhuận cho đội tàu gồm: kích thước ngư cụ, số lao động và đầu tư thiết bị hàng hải.

DOI: https://doi.org/10.53818/jfst.04.2025.608

Tác giả

Nguyễn Phi Toàn

Viện nghiên cứu Hải sản

Phạm Văn Tuấn

Viện nghiên cứu Hải sản

Phạm Sỹ Tấn

Viện nghiên cứu Hải sản

Bùi Như Chiến

Viện nghiên cứu Hải sản

điểm /   đánh giá
Phát hành ngày
2025-12-29