https://www.vjol.info.vn/index.php/khxhvn/issue/feed Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam 2026-03-09T02:54:34+07:00 Kiều Quỳnh Anh vjol@vista.gov.vn Open Journal Systems <p><strong>Tạp chí của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam</strong></p> https://www.vjol.info.vn/index.php/khxhvn/article/view/133293 Luận điểm “Chưa có công nghiệp nặng, thì chưa thể có một nền kinh tế tự chủ và giàu mạnh được” của Hồ Chí Minh và ý nghĩa đối với phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình 2026-03-09T02:19:42+07:00 Nguyễn Thị Phượng ntphuong@hcmute.edu.vn <p>Phát triển đất nước sánh vai với các cường quốc năm châu là mong muốn to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong nhiều biện pháp, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến phát triển công nghiệp nặng. Người coi công nghiệp nặng là cơ sở, là nền tảng để tiến hành công nghiệp hóa, tiến lên xây dựng một nền kinh tế tự chủ và giàu mạnh. Trên cơ sở phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về công nghiệp nặng và soi chiếu trong bối cảnh hiện nay, bài viết góp phần làm rõ ý nghĩa của những quan điểm đó trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước. Đồng thời, bài viết đúc rút một số chỉ dẫn phương pháp luận từ tư tưởng Hồ Chí Minh cho quá trình phát triển công nghiệp nặng của Việt Nam trong hiện tại và tương lai, hướng tới mục tiêu: nước ta trở thành nước phát triển, công nghiệp hiện đại, thu nhập cao nhân kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.</p> 2026-03-09T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã Hội Việt Nam https://www.vjol.info.vn/index.php/khxhvn/article/view/133295 Lao động công nghệ ở Thành phố Hồ Chí Minh: Đời sống xã hội và không gian đô thị 2026-03-09T02:24:22+07:00 Phan Thị Hồng Xuân na.vu100394@gmail.com Nguyễn Triệu Vy na.vu100394@gmail.com Nguyễn Anh Vũ na.vu100394@gmail.com <p>Trong bối cảnh chuyển đổi số và đô thị hóa nhanh tại Thành phố Hồ Chí Minh, lực lượng lao động công nghệ nổi lên như một bộ phận quan trọng của nền kinh tế số nhưng cũng đối mặt với nhiều rủi ro xã hội như việc làm bấp bênh, an sinh và sự kiểm soát của quản trị thuật toán. Dù quốc tế đã có nhiều nghiên cứu về chủ đề này, tại Việt Nam cách tiếp cận từ xã hội học đô thị vẫn còn hạn chế. Nghiên cứu kết hợp khảo sát nhanh, phỏng vấn sâu nhằm phân tích điều kiện làm việc, trải nghiệm đô thị và cơ chế thích ứng của nhóm lao động công nghệ tại Thành phố. Kết quả chỉ ra mức độ bất ổn nghề nghiệp cao, hạn chế trong tiếp cận hỗ trợ chính sách và sự suy yếu của mạng lưới cộng đồng, từ đó nêu nhu cầu cấp thiết về cải thiện an sinh và quản lý đô thị trong nền kinh tế số. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm phục vụ hoạch định chính sách liên quan đến lao động công nghệ tại Việt Nam.</p> 2026-03-09T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã Hội Việt Nam https://www.vjol.info.vn/index.php/khxhvn/article/view/133296 Vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng đối với đội ngũ cán bộ cấp cơ sở trong việc thực hiện nhiệm vụ hiện nay 2026-03-09T02:26:14+07:00 Lê Thị Thu Huyền lehuyencb.lhp@gmail.com <p>Thế giới quan duy vật biện chứng không chỉ là hệ thống lý luận mà còn là công cụ sắc bén, giúp cán bộ nâng cao năng lực nhận thức khoa học, xây dựng bản lĩnh chính trị, tổng kết thực tiễn, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng. Trang bị thế giới quan duy vật biện chứng cho đội ngũ cán bộ cấp cơ sở để họ vận dụng sáng tạo trong hoạt động lãnh đạo, quản lý tại địa phương, đơn vị là nhiệm vụ quan trọng nhằm góp phần thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước vì sự phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Bài viết tập trung vào các vấn đề: thế giới quan duy vật biện chứng; vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng đối với nhận thức khoa học và tổ chức thực tiễn của cán bộ cấp cơ sở hiện nay, từ đó phân tích thực thực trạng và đưa ra các giải pháp.</p> 2026-03-09T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã Hội Việt Nam https://www.vjol.info.vn/index.php/khxhvn/article/view/133297 Thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất lúa của nông hộ tại các vùng thấp trũng, tỉnh Thừa Thiên Huế 2026-03-09T02:30:13+07:00 Đỗ Thị Hằng lthsen@hueuni.edu.vn Nguyễn Văn Chung lthsen@hueuni.edu.vn Nguyễn Trọng Dũng lthsen@hueuni.edu.vn Lê Thị Hoa Sen lthsen@hueuni.edu.vn <p>Nghiên cứu được triển khai thông qua khảo sát 149 hộ trồng lúa, phỏng vấn sâu 9 người am hiểu và 2 cuộc thảo luận nhóm tại hai xã Quảng Thành và Quảng Thọ, huyện Quảng Điền. Kết quả nghiên cứu cho thấy lụt, hạn, gió lốc kèm mưa lớn là những hiện tượng thời tiết tác động lớn nhất đến sản xuất lúa. Biến đổi khí hậu (BĐKH) không chỉ làm giảm năng suất mà còn làm tăng chi phí sản xuất. Nông hộ ở địa bàn nghiên cứu đã áp dụng đa dạng chiến lược thích ứng để giảm thiểu thiệt hại, gồm sử dụng giống lúa chịu hạn, điều chỉnh kỹ thuật canh tác, điều chỉnh lịch mùa vụ, đẩy mạnh cơ giới hóa và cải thiện quản lý sản xuất. Tuy nhiên, BĐKH vẫn còn là rủi ro lớn. Nghiên cứu này đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực thích ứng của nông hộ, hướng tới một hệ thống sản xuất lúa bền vững trước những diễn biến khó lường của BĐKH.</p> 2026-03-09T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã Hội Việt Nam https://www.vjol.info.vn/index.php/khxhvn/article/view/133299 Khoảng cách số toàn cầu nhìn từ quan điểm của ITU và khuyến nghị chính sách cho Việt Nam 2026-03-09T02:32:53+07:00 Nguyễn Việt Phương nguyenvietphuong@husc.edu.vn <p>Bài viết cung cấp một nghiên cứu toàn diện về vấn đề khoảng cách số toàn cầu dựa trên phân tích Báo cáo Sự kiện và số liệu: Sử dụng Internet năm 2024 của Liên minh viễn thông quốc tế (ITU). Trong bài viết này, tác giả sử dụng khái niệm khoảng cách số làm cơ sở lý luận và số liệu khảo sát mới nhất của ITU để phân tích, thảo luận về khoảng cách số giữa các khu vực (địa lý và nhóm thu nhập), giữa thành thị và nông thôn, giữa các giới và độ tuổi. Nghiên cứu khoảng cách số toàn cầu đặt trong bối cảnh Việt Nam, bài viết đưa ra các khuyến nghị chính sách nhằm thu hẹp khoảng cách số và giảm thiểu bất bình đẳng công nghệ trong quá trình thực hiện Chương trình Chuyển đổi số quốc gia hiện nay. Kết quả nghiên cứu khẳng định ý nghĩa quan trọng của các dữ liệu toàn cầu đối với việc nâng cao nhận thức về khoảng cách số và thực tiễn chuyển đổi số ở Việt Nam.</p> 2026-03-09T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã Hội Việt Nam https://www.vjol.info.vn/index.php/khxhvn/article/view/133301 Cơ chế, chính sách đặc thù nhằm thu hút đầu tư để phát triển khu công nghệ cao Hòa Lạc đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 2026-03-09T02:35:32+07:00 Nguyễn Thị Nguyệt nguyet.nt2@tmu.edu.vn Trần Thị Thu Hà nguyet.nt2@tmu.edu.vn Nguyễn Đoan Trang nguyet.nt2@tmu.edu.vn <p>Khu Công nghệ cao (KCNC) Hòa Lạc là một trong ba khu công nghệ cao trọng điểm quốc gia, được Chính phủ Việt Nam quy hoạch từ năm 1998 nhằm thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo - nền tảng cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Với diện tích quy hoạch khoảng 1.586 ha tại phía Tây Thủ đô Hà Nội, KCNC Hòa Lạc được kỳ vọng là hạt nhân dẫn dắt hệ sinh thái công nghệ quốc gia, tạo liên kết giữa nghiên cứu - đào tạo - sản xuất - thương mại hóa công nghệ. Tuy nhiên, sau hơn hai thập niên triển khai, sự phát triển của KCNC Hòa Lạc còn chậm so với kỳ vọng, chủ yếu do những hạn chế trong cơ chế, chính sách đặc thù phát triển. Bài viết này1 tập trung phân tích thực trạng và tác động của các cơ chế đặc thù đầu tư phát triển của KCNC của cả nước nói chung và KCNC Hòa Lạc nói riêng, từ đó làm cơ sở cho các kiến nghị chính sách phát triển KCNC Hòa Lạc đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.</p> 2026-03-09T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã Hội Việt Nam https://www.vjol.info.vn/index.php/khxhvn/article/view/133302 Một số vấn đề lý luận về hội bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm 2026-03-09T02:37:30+07:00 Lã Trường Anh latruonganh.gass2023@gmail.com <p>Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm là một vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh thị trường thực phẩm ngày càng phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ xâm hại đến sức khỏe cộng đồng. Bài viết tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về vai trò của Hội bảo vệ người tiêu dùng - một tổ chức xã hội có chức năng đại diện, hỗ trợ người tiêu dùng trong hoạt động bảo vệ an toàn thực phẩm. Thông qua phân tích khái niệm, vai trò, đặc điểm pháp lý của hội bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, từ đó đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức này trong bối cảnh mới. Các phân tích được thực hiện trên cơ sở đối chiếu với Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 và các văn bản pháp luật có liên quan.</p> 2026-03-09T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã Hội Việt Nam https://www.vjol.info.vn/index.php/khxhvn/article/view/133303 Quyền công đoàn của người lao động nước ngoài ở một số quốc gia trên thế giới 2026-03-09T02:39:29+07:00 Nguyễn Thị Thanh thanhnt@dhcd.edu.vn <p>Bài viết nghiên cứu về quyền công đoàn của người lao động nước ngoài (với ý nghĩa công đoàn là tổ chức của người lao động) ở một số quốc gia trên thế giới từ góc độ bối cảnh hội nhập, các quy định pháp luật quốc tế, thực tiễn pháp luật của một số quốc gia ở châu Âu, châu Á về quyền (được xem là quyền nền tảng trong đối thoại xã hội, bao gồm quyền thành lập, gia nhập và tham gia hoạt động công đoàn). Từ đó phân tích, đưa ra nhận xét, đánh giá việc nội luật hóa, việc thực hiện quyền công đoàn với một số kết quả đạt được, một số thách thức, giới hạn về quyền ở một số quốc gia. Bài viết có thể làm cơ sở khoa học pháp lý để tiếp tục nghiên cứu, thực hiện quyền công đoàn của người lao động nước ngoài ở các nước sở tại trong bối cảnh hiện nay.</p> 2026-03-09T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã Hội Việt Nam https://www.vjol.info.vn/index.php/khxhvn/article/view/133305 Từ nương rẫy đến rừng trồng: chuyển dịch sinh kế của người Nùng, Tày ở vùng Đông Bắc tỉnh Lạng Sơn 2026-03-09T02:41:43+07:00 Lý Viết Trường truonglv.ivides@gmail.com <p>Bài viết phân tích quá trình chuyển đổi sinh kế từ canh tác nương rẫy sang mô hình trồng rừng của người Nùng, Tày ở vùng Đông Bắc, tỉnh Lạng Sơn. Dựa trên khảo sát thực địa (9/2023-5/2025), nghiên cứu mô tả đặc điểm sinh kế trước chuyển đổi, chỉ ra các giới hạn như suy thoái đất, áp lực bảo vệ rừng. Quá trình chuyển đổi chịu ảnh hưởng của chính sách giao đất, thị trường lâm sản và nhu cầu tăng thu nhập. Việc trồng thông, bạch đàn góp phần chuyên môn hóa sinh kế, thay đổi phân công lao động và nhận thức về giá trị kinh tế - sinh thái của rừng. Tuy nhiên, mô hình này cũng đối mặt với thách thức về bền vững sinh thái, bảo tồn tri thức truyền thống và thích ứng khí hậu. Nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở thực tiễn - lý luận cho việc hoạch định chính sách phát triển lâm nghiệp bền vững ở vùng dân tộc thiểu số.</p> 2026-03-09T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã Hội Việt Nam https://www.vjol.info.vn/index.php/khxhvn/article/view/133306 Chính sách của Hàn Quốc với Triều Tiên dưới thời Tổng thống Moon Jae-in (2017 - 2022) 2026-03-09T02:45:48+07:00 Nguyễn Đức Toàn nguyenductoan@qnu.edu.vn Cao Ngọc Thịnh nguyenductoan@qnu.edu.vn Nguyễn Trọng Ngọc Hà nguyenductoan@qnu.edu.vn Nguyễn Ngọc Quỳnh Như nguyenductoan@qnu.edu.vn Nguyễn Thị Thái Châu nguyenductoan@qnu.edu.vn <p>Sau khi nhậm chức Tổng thống thứ 19 của Hàn Quốc tháng 5/2017, trong nhiệm kỳ của mình, Moon Jae-in đã điều chỉnh chính sách với Triều Tiên cho phù hợp tình hình. Chính sách của Hàn Quốc với Triều Tiên tập trung nhiều hơn vào các phương pháp kinh tế và ngoại giao nhằm đạt được hợp tác và trao đổi với Triều Tiên, đồng thời tránh leo thang căng thẳng để xây dựng lòng tin lẫn nhau giữa hai miền. Cách tiếp cận của chính sách Hàn Quốc đối với Triều Tiên là chuyển từ thế “đối đầu” sang một “đối tác tiềm năng” cho sự cùng tồn tại và hợp tác hướng đến một tương lai hòa bình và thịnh vượng chung. Kết quả của chính sách là Hàn Quốc đã thiết lập được các quan hệ liên Triều, đồng thời duy trì quan hệ song phương hòa bình với các bên liên quan (nhất là Mỹ) đến vấn đề phi hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên. Bài viết nhằm làm rõ nội dung, bản chất của chính sách cũng như kết quả thực hiện trên thực tiễn, trên cơ sở đó đưa ra một số nhận xét khách quan.</p> 2026-03-09T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã Hội Việt Nam https://www.vjol.info.vn/index.php/khxhvn/article/view/133308 Phát huy giá trị của nghệ thuật trình diễn dân gian ở hai tộc người Brâu và Rơ-măm trong phát triển kinh tế - xã hội khu vực biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia 2026-03-09T02:48:12+07:00 Nguyễn Thị Tám hongtam.ls89@gmail.com Lê Minh Anh hongtam.ls89@gmail.com <p>Bài viết nhận diện thực trạng trình diễn cồng chiêng và múa xoang của người Brâu và Rơ-măm ở khu vực biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia, đồng thời làm rõ các giá trị văn hóa - xã hội của hai loại hình này trong phát triển kinh tế - xã hội địa phương dưới góc tiếp cận vốn xã hội và cố kết xã hội. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nghệ thuật trình diễn dân gian không chỉ góp phần củng cố gắn kết cộng đồng và duy trì bản sắc tộc người, mà còn tạo nguồn lực cho du lịch cộng đồng, tăng sinh kế và thúc đẩy giao lưu văn hóa liên biên giới. Trên cơ sở đó, bài viết1 chỉ ra một số vấn đề đặt ra trong bảo tồn và phát huy hiện nay, gợi mở hướng tiếp cận bảo tồn gắn với phát triển bền vững vùng biên giới.</p> 2026-03-09T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã Hội Việt Nam https://www.vjol.info.vn/index.php/khxhvn/article/view/133309 Nghệ thuật trang trí thổ cẩm dân tộc Ê-đê trong bối cảnh đương đại 2026-03-09T02:50:33+07:00 Nguyễn Thị Ngọc Châu chauntn@hcmute.edu.vn Cung Dương Hằng chauntn@hcmute.edu.vn <p>Nghệ thuật trang trí thổ cẩm của dân tộc Ê-đê là một di sản văn hóa đặc sắc, thể hiện bản sắc tộc người thông qua những họa tiết, hoa văn mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Bên cạnh đó, bài viết cũng đề cập đến những thách thức lớn mà nghệ thuật này đang đối mặt, từ sự mai một của kỹ thuật truyền thống đến tác động mạnh mẽ của toàn cầu hóa và vấn đề bảo tồn. Việc phát huy giá trị nghệ thuật thổ cẩm Ê-đê không chỉ có ý nghĩa đối với chính cộng đồng mà còn góp phần quan trọng vào việc nâng cao nhận thức về giá trị nghệ thuật của thổ cẩm Ê-đê, đồng thời khuyến khích sự sáng tạo trong việc kế thừa và phát triển di sản văn hóa này.</p> 2026-03-09T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã Hội Việt Nam https://www.vjol.info.vn/index.php/khxhvn/article/view/133310 Phân tích kết cấu ngữ nghĩa của từ “trong” 2026-03-09T02:52:38+07:00 Lưu Hớn Vũ luuhonvu@gmail.com <p>Bài viết sử dụng phương pháp định lượng để phân tích kết cấu ngữ nghĩa của từ “trong” dựa trên nguồn ngữ liệu có quy mô 246.437 chữ. Kết quả phân tích cho thấy, từ “trong” chủ yếu được dùng để biểu thị ý nghĩa phi không gian, ít khi dùng để biểu thị ý nghĩa không gian. Trong ý nghĩa không gian, từ “trong” thường được dùng để biểu thị không gian ba chiều, với các điểm mốc là các thực thể không gian ba chiều rỗng có ranh giới. Trong ý nghĩa phi không gian, từ “trong” thường được dùng để ẩn dụ về thời gian và cơ thể người hoặc các bộ phận cơ thể người, nhưng ít khi dùng để ẩn dụ về vai trò, chức vụ và lĩnh vực.</p> 2026-03-09T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã Hội Việt Nam https://www.vjol.info.vn/index.php/khxhvn/article/view/133311 Tiếp nhận tiểu thuyết của Orhan Pamuk ở Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI 2026-03-09T02:54:34+07:00 Phạm Tuấn Anh ptanh@ctu.edu.vn <p>Bài viết tìm hiểu, đánh giá quá trình tiếp nhận tiểu thuyết của Orhan Pamuk ở Việt Nam, tập trung ở các phương diện dịch thuật, xuất bản, giới thiệu, nghiên cứu và phê bình. Kết quả nghiên cứu cho thấy tiểu thuyết của Orhan Pamuk nhận được sự quan tâm của đông đảo độc giả, nhà nghiên cứu, phê bình. Tiểu thuyết của Orhan Pamuk thành công ở nghệ thuật dựng truyện mang đậm đặc trưng của văn học hậu hiện đại, qua đó gợi mở nhiều vấn đề có tính đối thoại về văn hóa, xã hội Thổ Nhĩ Kỳ, đặc biệt là sự va chạm, đối thoại văn hóa Đông - Tây. Nghiên cứu này xác lập, chỉ rõ các loại hình tiếp nhận tiểu thuyết của Orhan Pamuk, từ đó góp phần gia tăng tính thực tiễn trong việc ứng dụng lí thuyết tiếp nhận vào nghiên cứu, phê bình văn học ở Việt Nam.</p> 2026-03-09T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã Hội Việt Nam