https://www.vjol.info.vn/index.php/baovethucvat/issue/feed Tạp chí Bảo vệ thực vật 2026-03-09T17:17:39+07:00 Open Journal Systems <p><strong>Tạp chí của Viện Bảo vệ thực vật</strong></p> https://www.vjol.info.vn/index.php/baovethucvat/article/view/133469 KHẢ NĂNG KÍ SINH VÀ SINH SẢN CỦA ONG Trichospilus pupivorus (Hymenoptera: Eulophidae) TRÊN NHỘNG SÂU SÁP Galleria mellonella (Lepidoptera: Pyralidae) 2026-03-09T16:24:39+07:00 . nhat.ppri@gmail.com <p data-start="75" data-end="340"><strong data-start="75" data-end="101">Trichospilus pupivorus</strong> là loài <strong data-start="110" data-end="129">ong ký sinh nội</strong> trên nhiều loài côn trùng gây hại ở các vùng <strong data-start="175" data-end="205">nhiệt đới và cận nhiệt đới</strong>. Ở <strong data-start="209" data-end="236">Đồng bằng sông Cửu Long</strong>, chúng được xác định là <strong data-start="261" data-end="339">tác nhân quan trọng trong quản lý sâu đầu đen hại dừa <em data-start="317" data-end="337">Opisina arenosella</em></strong>.</p> <p data-start="342" data-end="593">Nghiên cứu này được thực hiện nhằm <strong data-start="377" data-end="470">xác định hiệu quả ký sinh của ong <em data-start="413" data-end="427">T. pupivorus</em> trên nhộng vật chủ <em data-start="447" data-end="468">Galleria mellonella</em></strong>. Các thí nghiệm được tiến hành bao gồm <strong data-start="510" data-end="557">nuôi quần thể và nuôi cá thể <em data-start="541" data-end="555">T. pupivorus</em></strong> với các số lượng vật chủ khác nhau.</p> <p data-start="595" data-end="806">Kết quả cho thấy khi <strong data-start="616" data-end="675">nuôi quần thể <em data-start="632" data-end="646">T. pupivorus</em> trên nhộng <em data-start="658" data-end="673">G. mellonella</em></strong>, <strong data-start="677" data-end="746">tỷ lệ nhộng sâu sáp bị ký sinh trong các nghiệm thức đều đạt 100%</strong>. Thời gian ong ký sinh lên vật chủ <strong data-start="782" data-end="805">chủ yếu từ 1–4 ngày</strong>.</p> <p data-start="808" data-end="1115">Số lượng trung bình <strong data-start="828" data-end="850">ong <em data-start="834" data-end="848">T. pupivorus</em></strong> thu được từ <strong data-start="863" data-end="894">1 xác nhộng ký sinh (mummy)</strong> ở các nghiệm thức với <strong data-start="917" data-end="947">20, 25 và 30 nhộng sâu sáp</strong> lần lượt là <strong data-start="960" data-end="1011">11.313±2.128; 10.929±922 và 10.964±1.551 cá thể</strong>. Tỷ lệ <strong data-start="1019" data-end="1058">ong cái trưởng thành <em data-start="1042" data-end="1056">T. pupivorus</em></strong> trong tất cả các nghiệm thức dao động <strong data-start="1097" data-end="1114">từ 95,2–95,9%</strong>.</p> <p data-start="1117" data-end="1467">Khi <strong data-start="1121" data-end="1141">nuôi theo cá thể</strong>, dấu hiệu ký sinh được phát hiện <strong data-start="1175" data-end="1213">từ ngày thứ 2 sau khi cho tiếp xúc</strong>, với trung bình <strong data-start="1230" data-end="1271">1,00±0,00 đến 1,33±0,58 nhộng sâu sáp</strong> mang <em data-start="1277" data-end="1291">T. pupivorus</em>. Mật độ nuôi <strong data-start="1305" data-end="1346">1 ong cái trưởng thành <em data-start="1330" data-end="1344">T. pupivorus</em></strong> với <strong data-start="1351" data-end="1380">5, 10 và 15 nhộng sâu sáp</strong> cho số lượng cá thể nở ra lần lượt là <strong data-start="1419" data-end="1466">188,3±21,5; 134,3±74,5 và 127,0±21,9 cá thể</strong>.</p> <p data-start="1469" data-end="1649" data-is-last-node="" data-is-only-node="">Tổng thời gian <strong data-start="1484" data-end="1539">từ khi cho tiếp xúc đến khi ong trưởng thành vũ hóa</strong> là <strong data-start="1543" data-end="1556">16,0 ngày</strong>, và trong tất cả các thí nghiệm <strong data-start="1589" data-end="1648">thời gian sống của ong cái trưởng thành dài hơn ong đực</strong>.</p> 2026-03-09T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://www.vjol.info.vn/index.php/baovethucvat/article/view/133474 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC PHÂN TỬ VÀ SINH HỌC CỦA LOÀI RỆP MUỘI Pentalonia nigronervosa (Hemiptera: Aphididae) GÂY HẠI TRÊN CÂY CHUỐI TẠI VIỆT NAM 2026-03-09T16:55:18+07:00 . nhat.ppri@gmail.com <p data-start="75" data-end="444"><strong data-start="75" data-end="101">Cây chuối (<em data-start="88" data-end="94">Musa</em> sp.)</strong> là cây ăn quả nhiệt đới được trồng rộng rãi ở nhiều quốc gia, bao gồm cả Việt Nam. <strong data-start="185" data-end="224">Rệp chuối <em data-start="197" data-end="222">Pentalonia nigronervosa</em></strong> là một trong những loài côn trùng gây hại quan trọng nhất trên chuối do vừa gây hại trực tiếp bằng cách chích hút nhựa cây, vừa đóng vai trò là môi giới truyền <strong data-start="385" data-end="443">virus chùn ngọn chuối (Banana bunchy top virus – BBTV)</strong>.</p> <p data-start="446" data-end="774">Nghiên cứu này được thực hiện nhằm <strong data-start="481" data-end="610">xác định loài bằng phương pháp phân tử và nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của <em data-start="565" data-end="582">P. nigronervosa</em> trên cây chuối tại Hà Nội</strong>. Phương pháp <strong data-start="624" data-end="641">DNA barcoding</strong> dựa trên <strong data-start="651" data-end="669">gen ty thể COI</strong> xác nhận rằng loài rệp thu thập trên cây chuối tại Hà Nội là <strong data-start="731" data-end="773">P. nigronervosa (Aphididae, Hemiptera)</strong>.</p> <p data-start="776" data-end="977">Ở nhiệt độ <strong data-start="787" data-end="795">25°C</strong>, <strong data-start="797" data-end="870">vòng đời của rệp ngắn nhất khi nuôi trên chuối Cavendish và chuối Ngự</strong> (lần lượt <strong data-start="881" data-end="904">13,03 và 13,39 ngày</strong>), tiếp theo là <strong data-start="920" data-end="946">chuối Tây (14,38 ngày)</strong> và <strong data-start="950" data-end="976">cây riềng (15,89 ngày)</strong>.</p> <p data-start="979" data-end="1166"><strong data-start="979" data-end="1007">Sức sinh sản của rệp cái</strong> cao nhất trên <strong data-start="1022" data-end="1057">chuối Cavendish (22,44 rệp/cái)</strong>, tiếp theo là <strong data-start="1072" data-end="1101">chuối Ngự (19,58 rệp/cái)</strong>, <strong data-start="1103" data-end="1132">chuối Tây (15,50 rệp/cái)</strong> và <strong data-start="1136" data-end="1165">cây riềng (11,32 rệp/cái)</strong>.</p> <p data-start="1168" data-end="1344"><strong data-start="1168" data-end="1204">Tỷ lệ sống của <em data-start="1185" data-end="1202">P. nigronervosa</em></strong> cao nhất (<strong data-start="1215" data-end="1224">84,7%</strong>) khi nuôi trên <strong data-start="1240" data-end="1259">chuối Cavendish</strong>, trong khi <strong data-start="1271" data-end="1302">tỷ lệ chết hoàn toàn (100%)</strong> được ghi nhận khi nuôi trên <strong data-start="1331" data-end="1343">cây gừng</strong>.</p> <p data-start="1346" data-end="1464" data-is-last-node="" data-is-only-node="">Những kết quả này cho thấy <strong data-start="1373" data-end="1463">cây chuối là ký chủ thích hợp hơn cho <em data-start="1413" data-end="1430">P. nigronervosa</em> so với cây gừng hoặc cây riềng</strong>.</p> 2026-03-09T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://www.vjol.info.vn/index.php/baovethucvat/article/view/133477 NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH TÁC NHÂN GÂY BỆNH THỐI THÂN XÌ MỦ TRÊN CÂY MÍT TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ 2026-03-09T17:02:20+07:00 . nhat.ppri@gmail.com <p data-start="75" data-end="453">Dựa trên kết quả <strong data-start="92" data-end="121">khảo sát tại các vườn mít</strong>, thu thập mẫu và phân lập vi khuẩn từ các mẫu bệnh điển hình trong <strong data-start="189" data-end="265">thời gian hai năm tại Hậu Giang (trước đây, nay thuộc thành phố Cần Thơ)</strong>, cùng với <strong data-start="276" data-end="337">kết quả gây nhiễm nhân tạo trên thân cây mít 3–4 năm tuổi</strong>, vi khuẩn <strong data-start="348" data-end="377">Pectobacterium aroidearum</strong> được xác định là <strong data-start="395" data-end="452">tác nhân gây bệnh thối thân và chảy nhựa trên cây mít</strong>.</p> <p data-start="455" data-end="706">Triệu chứng bệnh <strong data-start="472" data-end="495">xuất hiện quanh năm</strong> nhưng <strong data-start="502" data-end="534">phát triển nhanh vào mùa mưa</strong>, với <strong data-start="540" data-end="579">tỷ lệ gây hại có thể đạt tới 50,93%</strong>. Bệnh gây hại <strong data-start="594" data-end="638">nghiêm trọng nhất vào tháng 8 và tháng 9</strong>, với <strong data-start="644" data-end="705">tỷ lệ nhiễm bệnh trong vườn dao động từ 66,67% đến 73,33%</strong>.</p> <p data-start="708" data-end="912" data-is-last-node="" data-is-only-node="">Vi khuẩn <strong data-start="717" data-end="746">Pectobacterium aroidearum</strong> <strong data-start="747" data-end="770">có khả năng di động</strong>, <strong data-start="772" data-end="828">không sinh trưởng được trong môi trường chứa 5% NaCl</strong>, và <strong data-start="833" data-end="911">cho kết quả âm tính đối với phản ứng khử nitrat cũng như phản ứng catalase</strong>.</p> 2026-03-09T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://www.vjol.info.vn/index.php/baovethucvat/article/view/133478 NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG ỨC CHẾ NẤM ASPEGILLUS NIGER GÂY BỆNH HÉO RŨ GỐC MỐC ĐEN HẠI LẠC CỦA MỘT SỐ CHẾ PHẨM NANO 2026-03-09T17:06:08+07:00 . nhat.ppri@gmail.com <p data-start="67" data-end="360"><strong data-start="67" data-end="86">Bệnh thối cổ rễ</strong> là một bệnh nguy hiểm do <strong data-start="112" data-end="163">tác nhân gây bệnh trong đất <em data-start="142" data-end="161">Aspergillus niger</em></strong> gây ra, ảnh hưởng nghiêm trọng đến <strong data-start="199" data-end="246">sản xuất lạc (đậu phộng) trên toàn thế giới</strong>. Khả năng tồn tại lâu dài của loài nấm này trong đất có thể làm <strong data-start="311" data-end="359">giảm hiệu quả của các thuốc trừ nấm tổng hợp</strong>.</p> <p data-start="362" data-end="608">Trong nghiên cứu này, một <strong data-start="388" data-end="453">hợp chất gồm Chitosan oligosaccharide 1000 ppm (COS 1000 ppm)</strong> kết hợp với <strong data-start="466" data-end="504">hạt nano bạc 50 ppm (AgNPs 50 ppm)</strong> và <strong data-start="508" data-end="543">ion đồng 500 ppm (Cu²⁺ 500 ppm)</strong> đã được thử nghiệm về <strong data-start="566" data-end="607">khả năng kháng nấm đối với <em data-start="595" data-end="605">A. niger</em></strong>.</p> <p data-start="610" data-end="816">Kết quả cho thấy <strong data-start="627" data-end="660">hợp chất nano AgNPs, Cu²⁺/COS</strong> ở các <strong data-start="667" data-end="686">nồng độ từ 1–5%</strong> có khả năng <strong data-start="699" data-end="773">ức chế hiệu quả sự sinh trưởng của <em data-start="736" data-end="746">A. niger</em> trong điều kiện in vitro</strong>, đạt <strong data-start="779" data-end="815">hiệu quả ức chế hoàn toàn (100%)</strong>.</p> <p data-start="818" data-end="1103">Ngoài ra, trong <strong data-start="834" data-end="856">điều kiện nhà lưới</strong>, việc <strong data-start="863" data-end="915">xử lý hợp chất nano AgNPs, Cu²⁺/COS ở nồng độ 1%</strong> với <strong data-start="920" data-end="967">một lần phun (một ngày trước khi gây nhiễm)</strong> hoặc <strong data-start="973" data-end="1036">hai lần phun (một ngày trước và một ngày sau khi gây nhiễm)</strong> đã <strong data-start="1040" data-end="1102">giảm tỷ lệ bệnh từ 100% xuống còn 0–4,44% so với đối chứng</strong>.</p> <p data-start="1105" data-end="1296" data-is-last-node="" data-is-only-node="">Do đó, <strong data-start="1112" data-end="1145">hợp chất nano AgNPs, Cu²⁺/COS</strong> được xem là <strong data-start="1158" data-end="1295">một giải pháp công nghệ cao, an toàn và hiệu quả đầy triển vọng trong phòng trừ bệnh thối cổ rễ trên cây lạc do nấm <em data-start="1276" data-end="1286">A. niger</em> gây ra</strong>.</p> 2026-03-09T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://www.vjol.info.vn/index.php/baovethucvat/article/view/133479 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU BƯỚC ĐẦU HIỆN TƯỢNG RỤNG QUẢ TRÊN CÂY HỒNG NGÂM XUÂN VÂN Ở TUYÊN QUANG 2026-03-09T17:09:58+07:00 . nhat.ppri@gmail.com <p data-start="67" data-end="376"><strong data-start="67" data-end="103">Hội chứng rụng quả trên cây hồng</strong> tại <strong data-start="108" data-end="141">xã Xuân Vân, tỉnh Tuyên Quang</strong> đã trở nên ngày càng nghiêm trọng ở hầu hết các vườn. Hiện tượng <strong data-start="207" data-end="239">rụng quả xảy ra theo hai đợt</strong>, đợt thứ nhất <strong data-start="254" data-end="268">vào đầu vụ</strong> – trùng với <strong data-start="281" data-end="301">rụng quả sinh lý</strong>, và đợt thứ hai <strong data-start="318" data-end="333" data-is-only-node="">vào cuối vụ</strong>, khoảng <strong data-start="342" data-end="375">một tháng trước khi thu hoạch</strong>.</p> <p data-start="378" data-end="505">Tác nhân gây bệnh được xác định là <strong data-start="413" data-end="436">nấm <em data-start="419" data-end="430">Diaporthe</em> sp.</strong> dựa trên <strong data-start="446" data-end="504">sự kết hợp giữa đặc điểm hình thái và đặc điểm phân tử</strong>.</p> <p data-start="507" data-end="667">Trong điều kiện <strong data-start="523" data-end="535">in vitro</strong>, điều kiện tối ưu cho sự sinh trưởng của <strong data-start="577" data-end="600">nấm <em data-start="583" data-end="594">Diaporthe</em> sp.</strong> là <strong data-start="604" data-end="622">môi trường PDA</strong> ở <strong data-start="625" data-end="645">nhiệt độ 25–30°C</strong> và <strong data-start="649" data-end="666">pH từ 5,0–7,0</strong>.</p> <p data-start="669" data-end="899" data-is-last-node="" data-is-only-node="">Việc <strong data-start="674" data-end="768">chủ động phun kép thuốc trừ nấm hóa học chứa hoạt chất Azoxystrobin với khoảng cách 7 ngày</strong>, khi <strong data-start="774" data-end="823">lá của đợt lộc xuân đạt kích thước gần tối đa</strong>, có thể <strong data-start="832" data-end="898">phòng ngừa hiệu quả hiện tượng rụng quả trên cây hồng Xuân Vân</strong>.</p> 2026-03-09T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://www.vjol.info.vn/index.php/baovethucvat/article/view/133481 HIỆU QUẢ ỨC CHẾ CỦA CÁC HỢP CHẤT NANO ĐỐI VỚI NẤM Pyricularia oryzae GÂY BỆNH ĐẠO ÔN LÚA TRONG ĐIỀU KIỆN IN VITRO 2026-03-09T17:16:15+07:00 . nhat.ppri@gmail.com <p data-start="67" data-end="290">Nghiên cứu được tiến hành nhằm <strong data-start="98" data-end="250">đánh giá khả năng của các hợp chất dạng nano trong việc ức chế trực tiếp sự sinh trưởng của sợi nấm và sự hình thành bào tử của <em data-start="228" data-end="248">Pyricularia oryzae</em></strong>, tác nhân gây <strong data-start="265" data-end="289">bệnh đạo ôn trên lúa</strong>.</p> <p data-start="292" data-end="698">Kết quả cho thấy <strong data-start="309" data-end="338">các nanocomposite gốc kẽm</strong> kết hợp với <strong data-start="351" data-end="399">dịch chiết nước của <em data-start="373" data-end="388">Annona glabra</em> (0,024%)</strong>, <strong data-start="401" data-end="435"><em data-start="403" data-end="424">Impatiens balsamina</em> (0,024%)</strong> và <strong data-start="439" data-end="473"><em data-start="441" data-end="462">Catharanthus roseus</em> (0,024%)</strong>, cũng như <strong data-start="484" data-end="513">chế phẩm nano chitosan–SA</strong> ở các <strong data-start="520" data-end="556">nồng độ 0,006%, 0,013% và 0,027%</strong> được bổ sung vào <strong data-start="574" data-end="592">môi trường PDA</strong>, đều thể hiện <strong data-start="607" data-end="697">tác dụng ức chế trực tiếp sự phát triển của tác nhân gây bệnh trong điều kiện in vitro</strong>.</p> <p data-start="700" data-end="871">Trong số các nghiệm thức, <strong data-start="726" data-end="763">nano chitosan–SA ở nồng độ 0,027%</strong> cho <strong data-start="768" data-end="820">hiệu quả ức chế sự phát triển khuẩn lạc cao nhất</strong>, đạt <strong data-start="826" data-end="870">17,58% sau 12 ngày kể từ khi cấy lát nấm</strong>.</p> <p data-start="873" data-end="1046" data-is-last-node="" data-is-only-node="">Chế phẩm này cũng <strong data-start="891" data-end="927">ức chế mạnh sự hình thành bào tử</strong>, đạt <strong data-start="933" data-end="977">62,60% sau 22 ngày kể từ khi cấy lát nấm</strong>, cho thấy <strong data-start="988" data-end="1045">tiềm năng ứng dụng trong quản lý bệnh đạo ôn trên lúa</strong>.</p> 2026-03-09T00:00:00+07:00 Bản quyền (c)