https://www.vjol.info.vn/index.php/SK-PT/issue/feedTạp chí Khoa học Nghiên cứu Sức khỏe và Phát triển2026-02-09T17:13:12+07:00Nguyễn Thanh Vânntv2@huph.edu.vnOpen Journal Systems<p><strong>T</strong><strong>ạp chí của Trường Đại học Y tế công cộng</strong></p>https://www.vjol.info.vn/index.php/SK-PT/article/view/131875Năng lực số của cán bộ y tế thuộc Trung tâm Y tế Quận Bắc Từ Liêm năm 2024 và một số yếu tố liên quan2026-02-09T17:12:40+07:00Hau Vujhds@huph.edu.vn<p><strong>Mục tiêu:</strong> Nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả thực trạng năng lực số của cán bộ y tế và xác định một số yếu tố liên quan đến năng lực số của cán bộ y tế các đơn vị y tế thuộc Trung tâm y tế quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội, năm 2024.<br><strong>Phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu cắt ngang thu thập trên Google Forms với 153 CBYT làm công tác chuyên môn tại các Trạm y tế, Phòng khám đa khoa và các khoa phòng thuộc Trung tâm y tế quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội năm 2024.<br><strong>Kết quả:</strong> Đa số CBYT có thái độ tích cực đối với công nghệ y tế số (76,47%). 55,6% CBYT có năng lực số đạt chung ở 7 khía cạnh theo Khung năng lực số. Hai khía cạnh có tỷ lệ năng lực số đạt thấp nhất là Sáng tạo nội dung số (43,8%) và Vận hành thiết bị, phần mềm (45,8%). Tỷ lệ năng lực số đạt cao hơn ở nhóm CBYT có thái độ tích cực đối với công nghệ y tế số (AOR=3,76, p<0,001).<br><strong>Kết luận</strong>: Năng lực số của CBYT tại Trung tâm Y tế quận Bắc Từ Liêm còn ở mức trung bình và chưa đồng đều, đặc biệt ở các khía cạnh Sáng tạo nội dung số và Vận hành thiết bị, phần mềm. Thái độ tích cực với công nghệ kỹ thuật số là yếu tố quan trọng giúp nâng cao năng lực số của cán bộ y tế.<br><strong>Từ khoá</strong>: năng lực số, cán bộ y tế, một số yếu tố liên quan.</p>2026-02-09T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://www.vjol.info.vn/index.php/SK-PT/article/view/131877Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội năm 2025 và một số yếu tố liên quan2026-02-09T17:12:47+07:00Hau Vujhds@huph.edu.vn<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thực trạng văn hóa an toàn người bệnh và phân tích một số yếu tố liên quan đến văn hóa an toàn người bệnh tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội năm 2025.<br><strong>Phương pháp nghiên cứu</strong>: Sử dụng thiết kế nghiên cứu kết hợp định lượng (cắt ngang) và định tính (tuần tự giải thích). NC định lượng thực hiện phát vấn 296 nhân viên y tế tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội thông qua bộ câu hỏi HOSPSC được thiết kế sẵn, nghiên cứu định tính thực hiện 7 cuộc phỏng vấn sâu với đại diện Ban An toàn người bệnh, Hội đồng quản lý chất lượng, lãnh đạo các khoa, phòng và 3 cuộc thảo luận nhóm với các bác sĩ lâm sàng, điều dưỡng/kỹ thuật viên và nhân viên khối hành chính.<br><strong>Kết quả</strong>: Tỉ lệ NVYT đánh giá VHATNB ở mức tích cực là 88,5%. Trong 12 lĩnh vực được đánh giá của bộ câu hỏi, các lĩnh vực có tỉ lệ đánh giá tích cực cao nhất gồm “Làm việc nhóm trong khoa/phòng” (97,2%), “Phản hồi, trao đổi về sai sót/lỗi” (96,4%) và “Hỗ trợ về quản lý cho ATNB” (94,2%). Các lĩnh vực có tỉ lệ đánh giá tích cực thấp nhất gồm “Trao đổi cởi mở” (83,7%), “Nhân sự” (83,5%). Thời gian làm việc trong tuần có liên quan đến mức độ tích cực của NVYT.<br><strong>Kết luận:</strong> VHATNB tại bệnh viện được phản hồi tích cực với tỷ lệ cao. Các lĩnh vực “Trao đổi cởi mở” và “Nhân sự” còn hạn chế, cho thấy cần tiếp tục củng cố chính sách nhân sự và cải thiện điều kiện làm việc nhằm duy trì VHATNB bền vững.<br><strong>Từ khóa:</strong> Văn hóa an toàn người bệnh, Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội, yếu tố liên quan, năm 2025.</p>2026-02-09T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://www.vjol.info.vn/index.php/SK-PT/article/view/131879Đặc điểm ổ bọ gậy nguồn của muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết dengue và một số yếu tố liên quan tại xã An Hoà, tỉnh Gia Lai năm 20252026-02-09T17:12:49+07:00Hau Vujhds@huph.edu.vn<p><strong>Mục tiêu:</strong> (1) Mô tả đặc điểm ổ bọ gậy nguồn và (2) Xác định một số yếu tố liên quan tới ổ bọ gậy nguồn tại xã An Hoà, tỉnh Gia Lai năm 2025.<br><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu cắt ngang, thực hiện từ 01-10/2025 trên 279 hộ, chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống. Thu thập số liệu qua phỏng vấn bằng bộ câu hỏi và khảo sát bọ gậy bằng vợt chuyên dụng, gửi mẫu đến Khoa Ký sinh trùng - Côn trùng, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Gia Lai để định loài.<br><strong>Kết quả</strong>: Kết quả khảo sát 724 dụng cụ chứa nước (DCCN) ghi nhận 53 dụng cụ có bọ gậy Aedes aegypti (7,3%), không phát hiện Aedes albopictus; dụng cụ phế thải (DCPT) là nguồn chủ yếu (45,1% số dụng cụ có bọ gậy và 68,3% tổng số bọ gậy). 76,4% DCCN không có nắp đậy, và toàn bộ ổ bọ gậy nguồn đều phát hiện ở nhóm này. Các chỉ số véc tơ ở mức cảnh báo nguy cơ (Chỉ số nhà có bọ gậy, lăng quăng AeAedes (HI) = 18,6%, Chỉ số DCCN có bọ gậy, lăng quăng AeAedes (CI) = 7,3%, số DCCN có bọ gậy Aedes trong 100 nhà điều tra (BI) = 19,0, chỉ số mật độ bọ gậy (CSMĐBG) = 2,3). Một số yếu tố liến quan đến quần thể bọ gậy nguồn: Những hộ gia đình (HGĐ) vệ sinh trong nhà không đạt khả năng có ổ bọ gậy nguồn cao gấp 6,9 lần so với HGĐ vệ sinh trong nhà đạt; những HGĐ vệ sinh ngoại cảnh không đạt khả năng có ổ bọ gậy nguồn cao gấp 4,2 lần so với HGĐ vệ sinh ngoại cảnh đạt, p<0,05.<br><strong>Kết luận</strong>: Tỷ lệ dụng cụ chứa nước không có nắp đậy còn cao; các chỉ số véc tơ ở mức cảnh báo nguy cơ, vì vậy người dân che đậy dụng cụ chứa nước, loại bỏ phế thải và giữ vệ sinh môi trường.<br><strong>Từ khoá:</strong> Sốt xuất huyết Dengue; muỗi; Aedes; ổ bọ gậy nguồn; An Lão; Gia Lai.</p>2026-02-09T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://www.vjol.info.vn/index.php/SK-PT/article/view/131881Tình trạng suy dinh dưỡng ở người bệnh cao tuổi điều trị nội trú tại Bệnh viện Mắt Huế năm 2025 và một số yếu tố liên quan2026-02-09T17:12:52+07:00Hau Vujhds@huph.edu.vn<p><strong>Mục tiêu</strong>: Đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng của người bệnh cao tuổi điều trị nội trú tại Bệnh viện Mắt Huế năm 2025 và một số yếu tố liên quan.<br><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu cắt ngang sử dụng thang đo đánh giá tình trạng dinh dưỡng tối thiểu MNA với 18 câu hỏi. Thời gian thực hiện từ tháng 11/2024 đến tháng 11/2025 trên 322 người bệnh nội trú từ 65 tuổi trở lên tại Bệnh viện Mắt Huế năm 2025.<br><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ người bệnh cao tuổi điều trị nội trú tại Bệnh viện Mắt Huế có nguy cơ suy dinh dưỡng và tỷ lệ suy dinh dưỡng đánh giá theo MNA lần lượt là 37,0% và 17,7%. Các yếu tố được xác định có mối liên quan đến suy dinh dưỡng ở người bệnh cao tuổi là: Có làm việc thường xuyên, sử dụng hơn 3 loại thuốc điều trị bệnh, chán ăn và ăn ít hơn 3 bữa trong ngày.<br><strong>Kết luận:</strong> Tình trạng suy dinh dưỡng của người bệnh cao tuổi ở mức trung bình (17,7%). Cần thường xuyên đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người bệnh thường xuyên và lập kế hoạch can thiệp dinh dưỡng sớm đối với người bệnh có nguy cơ suy dinh dưỡng. Tăng cường truyền thông về dinh dưỡng cho người bệnh và người nhà.<br><strong>Từ khóa:</strong> Suy dinh dưỡng, người bệnh cao tuổi, điều trị nội trú, MNA.</p>2026-02-09T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://www.vjol.info.vn/index.php/SK-PT/article/view/131885Thực trạng bỏ bữa sáng của sinh viên chính quy Trường Y Dược - Đại học Đà Nẵng năm 2025 và một số yếu tố liên quan2026-02-09T17:12:53+07:00Hau Vujhds@huph.edu.vn<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thực trạng bỏ bữa sáng và phân tích một số yếu tố liên quan của sinh viên chính quy Trường Y Dược - Đại học Đà Nẵng năm 2025.<br>Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 1022 sinh viên chính quy Trường Y Dược - Đại học Đà Nẵng từ tháng 11/2024 đến tháng 10/2025. Dữ liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi soạn sẵn gồm các biến về thực trạng bỏ bữa sáng và các yếu tố liên quan.<br><strong>Kết quả</strong>: Tỷ lệ sinh viên chính quy bỏ bữa sáng là 69%. Lý do phổ biến khiến sinh viên bỏ bữa sáng là không có thời gian để chuẩn bị bữa sáng hoặc không có thời gian ăn sáng (trên 62%). Một số yếu tố liên quan dẫn đến bỏ bữa sáng của sinh viên như: ngành học, đi lâm sàng, nơi cư trú, thời gian ngủ, tập luyện thể dục thể thao, ăn kiêng, thói quen ăn khuya, mức thu nhập, sự đa dạng của thực phẩm ăn sáng.<br><strong>Kết luận:</strong> Tỷ lệ sinh viên chính quy bỏ bữa sáng rất cao. Nhà trường cần tăng cường truyền thông giáo dục sức khỏe nhằm nâng cao nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của bữa sáng, chất lượng bữa sáng, lồng ghép trong các hoạt động ngoại khóa, y tế học đường.<br><strong>Từ khóa:</strong> Bỏ bữa sáng, thói quen ăn uống, sinh viên.</p>2026-02-09T15:28:46+07:00Bản quyền (c) https://www.vjol.info.vn/index.php/SK-PT/article/view/131886Các nguồn chứng cứ được điều dưỡng áp dụng vào thực hành tại Bệnh viện 19 – 8 Bộ Công an năm 20252026-02-09T17:12:55+07:00Hau Vujhds@huph.edu.vn<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả mức độ áp dụng các nguồn chứng cứ được điều dưỡng áp dụng trong thực hành tại Bệnh viện 19-8 - Bộ Công an năm 2025.<br><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 304 điều dưỡng đang công tác tại 23 khoa lâm sàng (13 khoa nội, 10 khoa ngoại) từ tháng 12/2024 đến tháng 6/2025. Công cụ sử dụng là bộ câu hỏi Developing Evidence-Based Practice Questionnaire (DEBPQ) của Gerrish (2007), đã được Đặng Thị Minh Phượng chuẩn hóa sử dụng trong nghiên cứu tại Việt Nam.<br><strong>Kết quả:</strong> Mức độ áp dụng chung của các nguồn bằng chứng vào thực hành của điều dưỡng là 67,4%. Trong đó: (1) Bằng chứng từ kiến thức, kinh nghiệm cá nhân 73,4%, (2) Bằng chứng từ đồng nghiệp 72,2%, (3) Bằng chứng quy định, chứng cứ nội bộ 51,1%, (4) Bằng chứng bên ngoài 45,1%, (5) Bằng chứng nghiên cứu 43,3%. Trong số 22 nguồn chứng cứ thì có một số nguồn được điều dưỡng đánh giá cao như: Kinh nghiệm cá nhân (điểm TB 4,23 ± 0,67), nguồn chứng cứ từ điều dưỡng lâm sàng có kinh nghiệm (điểm TB 4,05 ± 0,68) và chứng cứ từ chính sách, phác đồ của bệnh viện (điểm TB 3,77 ± 0,87).<br><strong>Kết luận</strong>: phần lớn điều dưỡng vẫn chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và chứng cứ từ đồng nghiệp. Bằng chứng từ các nghiên cứu là nhóm có mức sử dụng thấp nhất, phản ánh rõ sự hạn chế trong việc tiếp cận và ứng dụng bằng chứng từ các nghiên cứu hiện hành.<br><strong>Từ khoá</strong>: Các nguồn chứng cứ, thực hành điều dưỡng, Bệnh viện 19-8 Bộ Công an.</p>2026-02-09T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://www.vjol.info.vn/index.php/SK-PT/article/view/131899Công tác y tế trường học tại các trường trung học phổ thông khu vực 3 Thành phố Hồ Chí Minh năm học 2024 - 2025 và một số yếu tố ảnh hưởng2026-02-09T17:12:56+07:00Hau Vujhds@huph.edu.vn<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thực trạng công tác y tế trường học (YTTH) ở các trường trung học phổ thông (THPT) tại khu vực 3 Thành phố Hồ Chí Minh (KV3 HCM) năm học 2024 – 2025 và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng.<br><strong>Phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu cắt ngang kết hợp định lượng và định tính, thực hiện tại 38 trường THPT thuộc khu vực 3 của TP. Hồ Chí Minh (Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trước sáp nhập) từ 01–10/2025. Định lượng sử dụng số liệu thứ cấp từ 38 biên bản kiểm tra công tác YTTH; định tính gồm 11 phỏng vấn sâu với cán bộ Trung tâm kiểm soát bệnh tật thành phố Hồ Chí Minh (HCDC), cán bộ Sở Giáo dục & Đào tạo (GD&ĐT), ban giám hiệu, nhân viên y tế trường học (NVYTTH) và 1 thảo luận nhóm với đại diện ban giám hiệu, giáo viên, hội phụ huynh, trạm y tế và NVYTTH.<br><strong>Kết quả</strong>: Tỷ lệ trường có phòng học, bàn ghế, chiếu sáng đạt đủ tiêu chí còn thấp (21,1%; 10,8%; 52,6%). Các điều kiện về nước uống, nước sinh hoạt, vệ sinh và xử lý chất thải đạt lần lượt 71,1%; 76,3%; 57,9%. Điều kiện nhà ăn, bếp, kho và nhân sự phục vụ còn hạn chế (56,3%; 28,1%; 53,1%; 37,5%). Có 89,5% trường đáp ứng đầy đủ tiêu chí về chính sách, quy định, chăm sóc sức khỏe học sinh và liên kết cộng đồng; 71,1% đảm bảo điều kiện phòng y tế; 94,7% có đủ nhân viên y tế; 60,5% đạt tiêu chí quản lý, bảo vệ và<br>chăm sóc sức khỏe học sinh. Ngoài ra, 71,1% có Ban chăm sóc sức khỏe học sinh, 92,1% có kế hoạch, kinh phí, và 86,8% có báo cáo, tự đánh giá công tác y tế trường học. Bốn nhóm yếu tố gồm cơ chế chính sách, nhân lực, cơ sở vật chất – trang thiết bị và kinh phí đều ảnh hưởng hai chiều đến hoạt động YTTH.<br><strong>Kết luận:</strong> Nhà trường cần tăng cường thực hiện đầy đủ các nội dung y tế trường học theo quy định. Ngành Y tế và Giáo dục thành phố cần ban hành quy chế phối hợp liên ngành gắn với y tế cơ sở, đồng thời tăng cường chỉ đạo, giám sát, tập huấn và đề xuất điều chỉnh diện tích phòng y tế, danh mục thuốc, phụ cấp đặc thù và phạm vi sử dụng Quỹ Bảo hiểm Y tế học sinh nhằm nâng cao hiệu quả và tính bền vững của công tác y tế trường học.<br><strong>Từ khóa</strong>: y tế trường học, yếu tố ảnh hưởng, trung học phổ thông, Thành phố Hồ Chí Minh.</p>2026-02-09T16:00:40+07:00Bản quyền (c) https://www.vjol.info.vn/index.php/SK-PT/article/view/131901Hiệu quả can thiệp hành vi đối với tuân thủ thuốc hít và chất lượng cuộc sống của người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính: tổng quan hệ thống và phân tích gộp2026-02-09T17:12:59+07:00Hau Vujhds@huph.edu.vn<p><strong>Mục tiêu:</strong> Tổng quan hệ thống và phân tích gộp nhằm đánh giá hiệu quả của các can thiệp hành vi đối với mức độ tuân thủ thuốc hít và chất lượng cuộc sống (CLCS) của người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD).<br><strong>Phương pháp</strong>: Tổng quan được tiến hành theo hướng dẫn PRISMA 2020, đăng ký tại PROSPERO (CRD420251052411), tìm kiếm trên sáu cơ sở dữ liệu từ 01/2015 đến 03/2025. Các nghiên cứu được lựa chọn nếu đồng thời thỏa mãn các tiêu chí sau: người bệnh từ 18 tuổi trở lên, được chẩn đoán COPD; có can thiệp thay đổi hành vi nhằm cải thiện tuân thủ thuốc hít, báo cáo tuân thủ đo bằng Thang kiểm định tuân thủ thuốc hít (Test of Adherence to Inhalers, TAI) và chất lượng cuộc sống; thiết kế thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên đối chứng (RCT) hoặc bán thực nghiệm. Dữ liệu được tổng hợp định tính và phân tích gộp bằng mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên sử dụng phần mềm JASP, trình bày chênh lệch trung bình chuẩn hóa (standardized mean difference, SMD) Hedges g với khoảng tin cậy 95% (KTC 95%). Mức độ dị hợp được đánh giá bằng chỉ số I2. Nguy cơ sai lệch được đánh giá bằng Cochrane Risk of Bias 2.0 cho nghiên cứu RCT và JBI Checklist cho nghiên cứu bán thực nghiệm.<br><strong>Kết quả</strong>: Có năm nghiên cứu đáp ứng tiêu chí lựa chọn với tổng 346 người bệnh, gồm hai nghiên cứu RCT và ba nghiên cứu bán thực nghiệm. Các hình thức can thiệp được triển khai đa dạng như giáo dục kỹ thuật sử dụng thuốc hít, phản hồi sinh học, tư vấn cá nhân hóa và hỗ trợ qua công nghệ số, trong đó hầu hết nghiên cứu ghi nhận cải thiện sau can thiệp. Đối với tuân thủ thuốc hít, phân tích gộp ba nghiên cứu dữ liệu đồng nhất cho thấy hiệu quả mức trung bình với SMD (Hedges g) = 0,64; KTC 95%: 0,09 đến 1,19; p = 0,038; I2 = 0%. Đối với chất lượng cuộc sống, do sự không đồng nhất về thang đo và cách báo cáo dữ liệu, phân tích gộp không được tiến hành; kết quả tổng hợp định tính cho thấy xu hướng cải thiện sau can thiệp nhưng mức độ thay đổi khác nhau giữa các nghiên cứu.<br><strong>Kết luận:</strong> Các can thiệp thay đổi hành vi cho thấy hiệu quả cải thiện tuân thủ thuốc hít và xu hướng cải thiện CLCS ở người bệnh COPD, đặc biệt khi kết hợp tư vấn cá nhân hóa và hỗ trợ công nghệ số. Tuy nhiên, bằng chứng hiện có còn hạn chế bởi số lượng nghiên cứu ít, cỡ mẫu nhỏ và nguy cơ sai lệch ở mức trung bình trong một số nghiên cứu. Cần thêm các nghiên cứu RCT quy mô lớn với thời gian theo dõi dài hạn để khẳng định tính bền vững và khả năng triển khai rộng rãi của các mô hình can thiệp hành vi.<br><strong>Từ khóa:</strong> COPD, tuân thủ thuốc hít, can thiệp hành vi, chất lượng cuộc sống.</p>2026-02-09T16:06:28+07:00Bản quyền (c) https://www.vjol.info.vn/index.php/SK-PT/article/view/131906Dấu hiệu căng thẳng và một số yếu tố liên quan ở sinh viên Y khoa Trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng năm 20252026-02-09T17:13:02+07:00Hau Vujhds@huph.edu.vn<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thực trạng dấu hiệu căng thẳng, một số yếu tố liên quan ở sinh viên Y khoa Trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng, năm 2025.<br><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu cắt ngang trên 381 sinh viên Y khoa từ năm nhất đến năm sáu từ tháng 4/2025 đến 8/2025. Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0, trong đó thực trạng dấu hiệu căng thẳng được đánh giá bằng thang đo cảm nhận căng thẳng PSS-10 gồm 10 câu hỏi và hồi quy logistic đa biến được sử dụng để xác định các yếu tố liên quan đến căng thẳng.<br><strong>Kết quả:</strong> Nghiên cứu ghi nhận 71,1% sinh viên có dấu hiệu căng thẳng, gồm 28,9% mức thấp, 60,1% mức trung bình và 11% mức cao. Các yếu tố liên quan đến dấu hiệu căng thẳng bao gồm giới tính, nơi ở trong quá trình học, công việc bán thời gian, chương trình học, kinh tế gia đình, mâu thuẫn với ba mẹ và xung đột bạn bè (p<0,05).<br><strong>Kết luận:</strong> Kết quả nghiên cứu cho thấy dấu hiệu căng thẳng phổ biến ở sinh viên Y khoa, chịu tác động bởi nhiều yếu tố cá nhân, gia đình và xã hội. Do đó, cần thành lập Bộ phận Tư vấn tâm lý, tăng cường hoạt động rèn kỹ năng mềm, hỗ trợ ứng phó tâm lý, cân đối chương trình học đồng thời mở rộng chính sách hỗ trợ tài chính và điều kiện sinh hoạt, học tập cho sinh viên.<br><strong>Từ khóa</strong>: dấu hiệu căng thẳng, một số yếu tố liên quan, sinh viên Y khoa.</p>2026-02-09T16:17:30+07:00Bản quyền (c) https://www.vjol.info.vn/index.php/SK-PT/article/view/131908Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và nhu cầu đào tạo về sơ cấp cứu ban đầu của học sinh trường THPT Trung Văn, phường Đại Mỗ, Hà Nội năm 20242026-02-09T17:13:04+07:00Hau Vujhds@huph.edu.vn<p><strong>Mục tiêu</strong>: Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức và nhu cầu về sơ cấp cứu ban đầu của học sinh Trung học phổ thông (THPT).<br>Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 539 học sinh trường THPT Trung Văn, Hà Nội.<br><strong>Kết quả</strong>: Tỷ lệ học sinh có kiến thức đạt chung về sơ cấp cứu ban đầu là 28,4% và tỷ lệ học sinh mong muốn tham gia các lớp học về sơ cấp cứu ban đầu là 66,4%. Kết quả sau khi hiệu chỉnh mô hình hồi quy Logistic đa biến cho thấy, những người đã từng nghe nói về sơ cấp cứu có khả năng có kiến thức đạt cao hơn so với những người chưa từng nghe nói về sơ cấp cứu (OR = 3,0; KTC 95%: 1,9 – 4,8). Nữ học sinh có nhu cầu đào tạo sơ cấp cấp cứu ban đầu cao hơn so với nam học sinh (OR = 2,6; KTC 95%: 1,7 – 3,8). Học sinh giỏi có nhu cầu đào tạo sơ cấp cứu ban đầu cao hơn so với học sinh chưa giỏi (OR = 1,8; KTC 95%: 1,2 – 2,8). Tương tự như vậy, học sinh có thái độ tích cực có nhu cầu đào tạo cao hơn so với học sinh có thái độ chưa tích cực (OR = 2,1; KTC 95% CI: 1,4 – 3,2).<br><strong>Kết luận</strong>: Kiến thức về sơ cấp cứu ban đầu của học sinh THPT còn hạn chế (28,4%). Nhu cầu đào tạo về sơ cấp cứu của họ khá cao (66,4%). Những yếu tố liên quan đến kiến thức và nhu cầu đào tạo cho thấy: học sinh đã từng nghe về sơ cấp cứu có khả năng đạt kiến thức cao hơn; nữ sinh, học sinh giỏi và học sinh có thái độ tích cực đều có nhu cầu tham gia đào tạo cao hơn. Khuyến nghị: Cần triển khai các buổi đào tạo sơ cấp cứu phù hợp cho học sinh THPT, ưu tiên nhóm học sinh nam, học lực trung bình và thái độ chưa tích cực. Các nghiên cứu tiếp theo nên đánh giá kỹ năng thực hành và mở rộng khảo sát tại vùng nông thôn và miền núi.<br><strong>Từ khoá</strong>: Sơ cấp cứu ban đầu, kiến thức, nhu cầu đào tạo, SCC, nhu cầu đào tạo, học sinh THPT.</p>2026-02-09T16:24:11+07:00Bản quyền (c) https://www.vjol.info.vn/index.php/SK-PT/article/view/131910Thực trạng và giải pháp tăng cường hoạt động truyền thông dinh dưỡng cho người bệnh ung thư tại Trung tâm Ung Bướu, bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên2026-02-09T17:13:05+07:00Hau Vujhds@huph.edu.vn<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thực trạng hoạt động truyền thông dinh dưỡng (TTDD) vào năm 2025 và giải pháp tăng cường hoạt động này cho người bệnh ung thư tại Trung tâm Ung bướu (TTUB), bệnh viện Trung ương Thái Nguyên giai đoạn 2026-2027.<br><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu cắt ngang kết hợp định lượng và định tính được thực hiện tại TTUB, Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên. Thời gian thu thập số liệu từ tháng 04 tới tháng 05 năm 2025, đối tượng nghiên cứu định lượng là 85 người bệnh ung thư nội trú được lựa chọn thuận tiện, đối tượng nghiên cứu định tính là một số lãnh đạo bệnh viện, TTUB, Khoa Dinh dưỡng, và thảo luận nhóm với nhân viên y tế (NVYT) và người bệnh. Các biến số chính của nghiên cứu là: hình thức, nội dung TTDD đang triển khai, yếu tố ảnh hưởng tới TTDD, giải pháp nâng cao hoạt động TTDD. Dữ liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi có cấu trúc, phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm.<br><strong>Kết quả:</strong> Hoạt động TTDD đã được triển khai, trong đó tư vấn cá nhân là hình thức phổ biến nhất (82,3% người bệnh được nhận), thời gian tư vấn cá nhân từ 3-5 phút chiếm 42,2%, dưới 3 phút chiếm 18,3%, thời gian truyền thông nhóm từ 15-30 phút chiếm 82,5%. Người bệnh có phản hồi tương đối tích cực về nội dung TTDD và kỹ năng giao tiếp cơ bản của NVYT. Tuy nhiên, hoạt động TTDD còn nhiều hạn chế: thiếu tính hệ thống, chưa liên tục, hình thức chưa đa dạng (tiếp cận website/fanpage chỉ 16,5%), thời lượng tư vấn cá nhân còn ngắn (dưới 10 phút), và việc TTDD chưa bao phủ các giai đoạn quan trọng như sau khi ra viện (chỉ 2,9% được tư vấn sau ra<br>viện). Yếu tố quan trọng ảnh hưởng giảm hiệu quả đến hoạt động TTDD bao gồm: hạn chế về nguồn nhân lực chuyên trách dinh dưỡng và đào tạo về TTDD cho NVYT về ung thư; thiếu quy trình chuẩn về TTDD, cơ chế phối hợp và giám sát hoạt động TTDD; thiếu cơ sở vật chất và tài liệu TTDD chuẩn hóa; cũng như các yếu tố từ<br>phía người bệnh như trình độ học vấn thấp, tâm lý lo lắng và tiếp nhận thông tin sai lệch.</p> <p><strong>Giải pháp</strong>: Nâng cao năng lực về TTDD cho cán bộ chịu trách nhiệm; Hệ thống hóa và lồng ghép hoạt<br>động TTDD vào quy trình khám chữa bệnh; Xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát, đánh giá TTDD; Xây<br>dựng cơ chế tài chính và chính sách hỗ trợ cho hoạt động TTDD và người bệnh.<br><strong>Từ khoá</strong>: Truyền thông dinh dưỡng; Người bệnh ung thư; Giải pháp; Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên.</p>2026-02-09T16:29:24+07:00Bản quyền (c) https://www.vjol.info.vn/index.php/SK-PT/article/view/131914Trải nghiệm người bệnh nội trú tại một số bệnh viện công lập ở miền Bắc Việt Nam năm 2025 và một số yếu tố liên quan2026-02-09T17:13:08+07:00Hau Vujhds@huph.edu.vn<p><strong>Mục tiêu</strong>: Mô tả thực trạng và một số yếu tố liên quan đến trải nghiệm người bệnh nội trú tại một số bệnh viện công lập ở miền Bắc Việt Nam năm 2025.<br><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 3366 người bệnh điều trị nội trú tại 7 Bệnh viện công lập thuộc miền Bắc Việt Nam từ tháng 03/2025 đến tháng 8/2025. Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi PPE 15 bản Tiếng Việt được dịch, đối chiếu và hiệu chỉnh dựa trên đánh giá của nhóm chuyên gia.<br><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ trải nghiệm tích cực của người bệnh điều trị nội trú là 71,5%. Trong số 15 tiểu mục (PPE 15) được khảo sát, trải nghiệm tích cực cao nhất của người bệnh ghi nhận ở nội dung “nhân viên y tế cố gắng kiểm soát cơn đau” (90%) và “nhân viên y tế đối xử tôn trọng” (87,7%). Ngược lại, các tiểu mục có tỷ lệ thấp là “chia sẻ lo lắng với nhân viên y tế” (69,9%) và “tham gia vào kế hoạch điều trị” (75,3%). Một số yếu tố liên quan đến trải nghiệm tích cực là giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, khoa điều trị và tình trạng khi nhập viện; trong đó nữ giới có trải nghiệm tích cực cao hơn nam giới (OR=1,17) và nhóm nhập viện để phẫu thuật hoặc thủ thuật có trải nghiệm tích cực cao gấp 2 lần nhóm nhập viện cấp cứu (OR=2,01)<br><strong>Kết luận:</strong> Trải nghiệm của người bệnh nội trú tại các bệnh viện công lập đạt mức khá tốt. Tuy nhiên, các bệnh viện công lập cần tập trung nâng cao kỹ năng giao tiếp và tư vấn của nhân viên y tế, cải thiện cơ sở vật chất, bảo đảm trao đổi thông tin minh bạch và tạo điều kiện để người bệnh tham gia vào quá trình điều trị, nhằm nâng cao trải nghiệm và chất lượng chăm sóc toàn diện.<br><strong>Từ khóa</strong>: Trải nghiệm, người bệnh nội trú, bệnh viện, PPE 15.</p>2026-02-09T16:42:35+07:00Bản quyền (c) https://www.vjol.info.vn/index.php/SK-PT/article/view/131917Khảo sát niềm tin của sinh viên vật lý trị liệu tại trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng về đau thắt lưng năm 20252026-02-09T17:13:09+07:00Hau Vujhds@huph.edu.vn<p><strong>Mục tiêu</strong>: Đau thắt lưng (ĐTL) cần tiếp cận dựa trên mô hình sinh học - tâm lý - xã hội. Các nghiên cứu trước cho thấy niềm tin và hành vi lâm sàng của sinh viên (sinh viên) các khối ngành sức khỏe có thể hình thành từ giai đoạn đào tạo và ảnh hưởng đến cách thực hành lâm sàng. Nghiên cứu này khảo sát niềm tin về ĐTL của sinh viên vật lý trị liệu (VLTL) - những người sẽ trực tiếp tham gia quản lý ĐTL và chăm sóc bệnh nhân ĐTL trong tương lai thông qua bảng câu hỏi về niềm tin đau Back-PaQ phiên bản tiếng Việt.<br><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Thiết kế nghiên cứu cắt ngang (12/2024 - 4/2025) trên 258 sinh viên VLTL tại trường đại học (ĐH) Quốc tế Hồng Bàng bằng thang đo về niềm tin đau Back pain attitude questionnaire (Back - PaQ) phiên bản tiếng Việt.<br>Kết quả: Tổng điểm trung bình (TB) thang đo về niềm tin đau Back - PaQ là 115,97 ± 11, cho thấy sinh viên vẫn duy trì những niềm tin không đúng như lo lắng quá mức về tổn thương lưng, quan niệm sai lệch về tư thế và bản chất của đau lưng.<br><strong>Kết luận:</strong> Sinh viên VLTL – những nhà lâm sàng tương lai vẫn có niềm tin sai lệch về ĐTL. Cần lồng ghép giáo dục theo mô hình sinh học - tâm lý - xã hội trong đào tạo nhằm điều chỉnh niềm tin này và cải thiện chất lượng chăm sóc bệnh nhân trong tương lai.<br><strong>Từ khoá:</strong> niềm tin, sinh viên vật lý trị liệu, đau thắt lưng.</p>2026-02-09T16:51:21+07:00Bản quyền (c) https://www.vjol.info.vn/index.php/SK-PT/article/view/131920Tổng quan các bộ công cụ đánh giá tình trạng dinh dưỡng trên bệnh nhân ung thư tại Đông Nam Á2026-02-09T17:13:11+07:00Hau Vujhds@huph.edu.vn<p><strong>Mục tiêu:</strong> Tổng quan các bộ công cụ đánh giá tình trạng dinh dưỡng trên bệnh nhân ung thư tại Đông Nam Á.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp tổng quan tài liệu hệ thống, tuân theo hướng dẫn PRISMA (Preferred Reporting Items for Systematic Reviews and Meta-Analyses). Tài liệu được tìm kiếm trên các cơ sở dữ liệu PubMed/Medline, Google Scholar và Cochrane Library, gồm các bài báo bằng tiếng Anh và tiếng Việt, được công bố từ ngày 01/01/2015 đến ngày 31/12/2024.<br><strong>Kết quả</strong>: Trong 3.964 bài báo được xác định, có 40 bài đáp ứng tiêu chí lựa chọn, gồm 09 bài từ các nước Đông Nam Á và 31 bài từ Việt Nam (3 bài viết bằng tiếng Anh). PG-SGA là công cụ được sử dụng nhiều nhất (80,0%, n=32), tiếp theo là SGA (17,5%, n=7), GLIM (7,5%, n=3) và NAF (2,5%, n=1).<br><strong>Kết luận</strong>: PG-SGA, SGA, GLIM và NAF là 4 công cụ được sử dụng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng trong các nghiên cứu tìm được. Trong đó, PG-SGA là công cụ phổ biến nhất, đặc biệt trong nghiên cứu về ung thư đường tiêu hóa.<br><strong>Từ khóa</strong>: Bộ công cụ, đánh giá, tình trạng dinh dưỡng, ung thư, Đông Nam Á.</p>2026-02-09T16:56:52+07:00Bản quyền (c) https://www.vjol.info.vn/index.php/SK-PT/article/view/131922Thực trạng hoạt động thể lực của sinh viên Trường Y Dược - Đại học Đà Nẵng năm 2025 và một số yếu tố liên quan2026-02-09T17:13:12+07:00Hau Vujhds@huph.edu.vn<p><strong>Mục tiêu</strong>: Mô tả thực trạng hoạt động thể lực (HĐTL) của sinh viên (SV) Trường Y Dược - Đại học Đà Nẵng năm 2025 và phân tích một số yếu tố liên quan.<br><strong>Phương pháp</strong>: Nghiên cứu cắt ngang thực hiện trên 1191 SV Trường Y Dược - Đại học Đà Nẵng, từ tháng 12/2024 đến tháng 09/2025.<br><strong>Kết quả:</strong> 49,5% SV chưa đạt mức HĐTL theo khuyến nghị của WHO, trong đó nữ (77,1%) cao hơn so với nam (22,9%) (p < 0,001). Tỷ lệ HĐTL cao, trung bình, thấp lần lượt là 20,9%, 29,6%, 49,5%. Phân tích hồi qui đa biến cho thấy các yếu tố cá nhân (giới tính, năm học, ngành, kết quả học tập), hành vi lối sống (thời gian ngồi, làm thêm) và xã hội (tham gia câu lạc bộ, sự khuyến khích, khó khăn khi tham gia HĐTL) có mối liên quan đến thực trạng HĐTL của sinh viên Trường Y Dược.<br><strong>Kết luận:</strong> Tỷ lệ SV chưa đạt mức HĐTL theo khuyến nghị vẫn còn cao. Khuyến nghị các giải pháp như tích hợp giáo dục về HĐTL vào chương trình học, khuyến khích tham gia câu lạc bộ và nâng cao nhận thức cá nhân để cải thiện tình trạng HĐTL cho SV.<br><strong>Từ khóa:</strong> Hoạt động thể lực, sinh viên, Trường Y Dược, IPAQ-SF.</p>2026-02-09T17:01:22+07:00Bản quyền (c)